/ 20
1.259

Liễu Phàm Tứ Huấn

Tập 13

Chủ giảng: Tịnh Không Pháp Sư

Chuyển ngữ: Hạnh Chơn

Biên tập: Bình Minh

Thời gian: 19.04.2001

Địa điểm: Đài Truyền Hình Phụng Hoàng

Thâm Quyến_Trung Quốc


  Chư vị đồng học, xin chào mọi người!

Chúng ta tiếp tục giới thiệu về nhà họ Lâm ở Bồ Điền, đây là trường hợp thứ tư về quả báo hiếu thiện tích đức.

Gia đình họ Lâm ở Bồ Điền, ngày xưa có một bà nội, thích hành thiện thích bố thí, thường làm bánh bố thí cho người nghèo. Từ năm này qua năm khác như thế, nhưng bà không hề cảm thấy mệt mỏi, hoan hỷ cứu tế người nghèo khổ.

Có vị tiên nhân hóa thành đạo nhân, tiên hóa thành đạo nhân. Chúng ta không cần suy đoán về ông ta, chúng ta chỉ thấy có một đạo nhân nghèo”, mỗi ngày ông đến đây lấy sáu bảy cái bánh, ngày nào ông cũng đến. Bà lão ngày nào cũng cho ông, ông cần rất nhiều, người khác lấy một hai cái, nhưng ông mỗi ngày lấy sáu bảy cái. Ba năm như một ngày, ông ngày nào cũng lấy như vậy suốt ba năm, bà cụ này đều hoan hỷ cho ông. Biết rằng bà cụ bố thí cứu người với lòng chân thành.

“Nhân vị chi viết”, hôm nay đạo trưởng nói với bà cụ. “Ngô thực nhữ tam niên phấn đoàn, hà dĩ báo nhữ”, tôi ăn bánh của bà suốt ba năm, một ngày ăn sáu bảy cái, ăn suốt ba năm, tôi lấy gì để báo đáp bà đây? “Phủ hậu hữu nhất địa táng chi”, nhà bà có một mảnh đất quý, ông nói tương lai sau khi chết đem mai táng ở đó. “Tử tôn quan tước, hữu nhất thăng ma tử chi số”, tương lai nhân số con cháu của bà làm quan nhiều giống như hạt mè vậy. Nhờ thành tâm cứu người!

“Kỳ tử y sở điểm táng chi, sơ thế tức hữu, cửu nhân đăng đệ, lũy đại trâm anh thậm thạnh, Phúc Kiến hữu vô lâm bất khai bảng chi dao”. Lời nói này là thật, trước đây tôi từng ở Kiến Âu Phúc Kiến sáu năm, cho đến thời kỳ kháng chiến, trong gia đình họ luôn có hiền nhân. Hậu duệ của bà y theo chỉ điểm của đạo trưởng, đem mai táng bà ở đó. Quả nhiên sau khi mai táng đời thứ nhất, hậu nhân của bà có chín người đậu tiến sĩ, cho nên ở Phúc Kiến có câu: “Vô Lâm bất khai bảng”. Mỗi lần có khoa cử, thi trúng cử nhân, trúng tiến sĩ, người nhà họ Lâm chiếm đa số. Đây là tổ tông của họ, bà cụ này thành tâm bố thí cứu người, quanh năm không thấy mệt mỏi.

“Lũy đại” là đời này qua đời khác, “trâm anh” là nói cái mũ ngày xưa làm quan thường đội. Cái đai trên mũ gọi là anh, sợi dây để thắt mũ gọi là “anh”, râu cắm vào hai bên gọi là “trâm”. Điều này chứng tỏ họ làm quan rất lớn, gia tộc này rất hưng thịnh, tất cả đều nhờ tổ tông tích đức. Con cháu cũng không ngừng hành thiện tích đức, duy trì gia phong, đời đời không suy yếu.

Trong lịch sử có rất nhiều trường hợp như vậy, nổi tiếng nhất là Phạm Trọng Yêm. Trong văn cổ chúng ta đọc Nghĩa Điền Ký, biết Phạm Trọng Yêm từ nhỏ có chí lớn cứu người cứu đời, suốt đời tích lũy công đức không biết mệt mỏi. Đầu năm dân quốc, đại sư Ấn Quang khen ngợi, đức lớn mà tổ tông tích được, con cháu đời đời sau đều nhận được ân đức của họ, có ba người. Thứ nhất là Khổng tử, hơn 2500 năm gia đạo không suy, đế vương các triều đại đều tôn kính Khổng phu tử. Hôm nay vào thời đại dân quốc, hậu duệ của Khổng tử ở nước ngoài đều nhận được sự tôn kính của người nước ngoài, đây là dư phước của Khổng tử. Thứ hai là Phạm Trọng Yêm, đến đầu năm dân quốc, 800 năm không suy yếu, ông là người thời nhà Tống. Vị thứ ba là Diệp Trạng Nguyên, là đầu nhà Thanh cho đến cuối nhà Thanh, 300 năm không suy yếu. Đại sư Ấn Quang lấy trường hợp ba người này, tổ tông tích đức dày.

Xem tiếp người thứ năm: “Phùng Trác Am thái sử chi phụ, vi ấp tường sanh”. “Ấp” là huyện, tại nơi trường huyện, “tường” là trường học, cũng coi như là công lập. Khi làm học sinh trường huyện, “tường sanh” thông thường gọi là tú tài. “Long đông tảo khởi phó học”, mùa đông dậy sớm đến học đường. “Lộ ngộ nhất nhân, đảo ngọa tuyết trung, môn chi bán cương hỉ”. Trên đường đi thấy có một người té nằm trong đống tuyết, ông đến sờ xem thấy chưa chết, nhưng cũng sắp đông cứng.

“Toại giải kỷ miên cừu y chi”, trên thân ông quàng tơ tằm hoặc là mang áo quần, áo khoác ngoài, ông lập tức cởi ra đắp cho người này. “Thả phù quy cứu tô”, dìu người này về nhà cứu sống, đây là cứu một mạng người. Nhà Phật thường nói: “Cứu một mạng người hơn xây tháp bảy tầng”. Ý câu này rất thâm sâu. Thông thường người ta chỉ biết xây chùa, “phù đồ” là bảo tháp, “thất cấp” là bảo tháp bảy tầng, xây tháp bảy tầng công đức rất lớn. Hiện nay lại tạo tượng Phật lớn, đại khái tạc tượng Phật lớn công đức lớn hơn xây bảo tháp. Tôi suy nghĩ mãi câu nói này của cổ nhân, cứu một mạng người, hơn tạo tượng Phật Bồ Tát 100 mét, không chỉ là bảo tháp bảy tầng. Quý vị tạo tượng Phật Bồ Tát lớn như vậy để làm gì? Thế gian hiện nay, người khổ nạn quá nhiều, biết bao nhiêu người đang đói khát. Không có cái ăn, không có cái mặc, bệnh không có thuốc men, đáng thương biết bao! Đắp một tượng Phật lớn, xây một bảo tháp mất hết bao nhiêu tiền. Nếu đem số tiền này cứu tế nhân dân gặp khó khăn, những người sống trong đói khát, tôi tin rằng công đức này vô lượng vô biên. Cứu một mạng người, quả báo không thể nghĩ bàn, được phước báo rất lớn. Nếu có thể cứu ngàn vạn sinh mạng, tôi tin rằng hậu duệ của quý vị đều làm quan lớn, như ở trước vị đạo trưởng nói, nhân số nhiều như hạt mè vậy, vì sao không làm?

/ 20