Những Lời Khai Thị Trí Huệ Trong Kinh Kim Cang
Chủ Đề 434: Chỉ Dùng Công Phu Này, Phòng Đọa Thiên Không. Do Đó Cần Phải Viên Dung, Tánh Tướng Viên Dung, Vô Ngại Tự Tại. Nói “Thị Danh” Mà Nói “Phi”, Là Để Làm Rõ Huyễn Hữu Không Lìa Chân Không, Tướng Chẳng Phải Tánh Thì Không Dung Thông. Vì Vậy Tuy Không Hoại Tướng, Cũng Không Được Trước Tướng. Nói “Phi” Rồi Lại Nói “Thị Danh”, Là Để Làm Rõ Chân Không Chẳng Ngại Huyễn Hữu, Tánh Không Có Tướng Thì Không Hiển Lộ. Vì Vậy Tuy Không Trước Tướng, Cũng Không Nên Hoại Tướng. Về Sau Mới Đạt Được Vô Ngại Mà Viên Dung
Chủ giảng: Pháp sư Tịnh Không
Thời gian: Tháng 05 năm 1995
Địa điểm: Cư Sĩ Lâm Phật Giáo Singapore
Trích lục từ: Báo cáo nghiên cứu Kim Cang Bát Nhã (Tập 038)
Chuyển ngữ: Tịch Minh
— ❖ —
【Chỉ dùng công phu này, phòng đọa thiên không. Do đó cần phải viên dung, tánh tướng viên dung, vô ngại tự tại. Nói “thị danh” mà nói “phi”, là để làm rõ huyễn hữu không lìa chân không, tướng chẳng phải tánh thì không dung thông. Vì vậy tuy không hoại tướng, cũng không được trước tướng. Nói “phi” rồi lại nói “thị danh”, là để làm rõ chân không chẳng ngại huyễn hữu, tánh không có tướng thì không hiển lộ. Vì vậy tuy không trước tướng, cũng không nên hoại tướng. Về sau mới đạt được vô ngại mà viên dung.】
Chúng ta xem đoạn này, văn tự tuy không nhiều, nhưng đã phác họa ra cho chúng ta chân tướng của tánh tướng, lý sự. Trong cuộc sống của chúng ta, tu trì chính là cuộc sống, nếu nói tu trì không có quan hệ gì với cuộc sống, cuộc sống không phải là tu trì, thì sai rồi, dụng công cũng chính là ở ngay trong cuộc sống. Cuộc sống có thể tương ưng với sự thật chân tướng, đây chính là cảnh giới tốt, chính là cảnh giới của Phật Bồ Tát; nếu trái nghịch với sự thật chân tướng, thì đó là cảnh giới của phàm phu Lục đạo; từ đây có thể thấy, tương ưng hay không tương ưng với sự thật chân tướng là điều hệ trọng nhất. Thế Tôn trong bộ kinh này dạy chúng ta dụng công, là hai bên đều không chấp trước, hai bên Không và Hữu đều không chấp trước.
“Chỉ dùng công phu này”, giống như đại tiền đề, đại nguyên tắc đã giảng cho chúng ta ở phía trước, “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (nên không trụ vào đâu mà sanh tâm ấy). Sanh tâm là để tránh rơi vào chấp không, nếu vô trụ mà không sanh tâm, thì sẽ rơi vào ngoan không, như vậy vẫn là trái nghịch với sự thật chân tướng. Phàm phu chấp hữu (chấp có), điều này dẫn đến đọa lạc vào Dục giới, Sắc giới; Dục giới, Sắc giới đều là hữu. Nếu phàm phu chấp không, không chấp trước vào “hữu” nữa, đã buông xả “hữu” rồi, lại đi chấp trước vào “không”; Vô Tưởng Thiên của Tứ Thiền là chấp không, lên cao hơn nữa, Tứ Không Thiên của Vô Sắc giới cũng là chấp không. Do đây có thể thấy, chấp hữu hay chấp không đều không thể thoát khỏi lục đạo luân hồi. Đây chính là lý do vì sao Phật trên kinh hết lần này đến lần khác, dăm lần bảy lượt khuyên dạy chúng ta, phải hai bên Không và Hữu đều không chấp trước, như vậy mới có thể siêu việt lục đạo, kiến giải như vậy là viên dung rồi, hành trì như vậy cũng viên dung rồi, không thiên lệch về một bên.
“Tánh tướng viên dung”, tánh là thể, là không; tướng là hữu (có). Thể tánh nhất định sẽ hiện tướng, nếu thể tánh không hiện tướng, thì thể tánh này không có tác dụng, có thể thì nhất định hiện tướng, đây là điều chúng ta bắt buộc phải biết. Do đó, tướng không thể diệt, tướng không thể đoạn, y chánh trang nghiêm của mười pháp giới chỉ là tướng đang chuyển biến. Chư vị phải biết, tướng sẽ biến đổi chứ không bị tiêu diệt, chính vì tướng này sẽ biến đổi, cho nên Phật dạy chúng ta sanh tâm; chúng ta sanh thiện tâm, thì tướng sẽ biến đổi tốt đẹp hơn, biến đổi trang nghiêm hơn. Đạo lý là ở chỗ này, vì sao lại dạy chúng ta phải sanh tâm. Tánh tướng viên dung, vậy thì tự tại rồi. Trên kinh Hoa Nghiêm nói, Phật và Pháp thân Đại sĩ, Pháp thân Đại sĩ là đại Bồ Tát, đều là những Bồ Tát đã kiến tánh, dùng lời ở chỗ này mà nói, thì đều là Bồ Tát tánh tướng viên dung; tánh tướng không viên dung thì không thể kiến tánh, viên dung thì kiến tánh, kiến tánh thì viên dung. Trong pháp môn niệm Phật chúng ta giảng “Nhất tâm bất loạn”, tánh tướng viên dung chính là Lý nhất tâm bất loạn; chứng đắc Lý nhất tâm bất loạn, nhất định là tánh tướng viên dung, danh tự nói không giống nhau, nhưng ý nghĩa, cảnh giới thì hoàn toàn tương đồng, không có tơ hào sai biệt, chúng ta liền nhập vào pháp giới vô chướng ngại. Vô ngại chính là “bất tư nghị giải thoát cảnh giới” mà kinh Hoa Nghiêm đã nói. Thanh Lương Đại Sư trong Hoa Nghiêm, có giảng cho chúng ta bốn loại vô ngại: Sự vô ngại, Lý vô ngại, Lý Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại, cho nên gọi là cảnh giới giải thoát bất tư nghị, cũng gọi là cảnh giới vô chướng ngại, như vậy thì được đại tự tại. Chúng ta tụng Tâm Kinh, đại khái Tâm Kinh thì mỗi vị đồng tu đều đã tụng qua, hơn nữa đều tụng rất thuộc, câu đầu tiên của Tâm Kinh “Quán Tự Tại Bồ Tát”, tự tại! Quán thì tự tại. Quán như thế nào? Vô chướng ngại. Nếu chúng ta không biết tác quán, thì sẽ có chướng ngại. Làm sao để tác quán, chúng ta ở trong hội này cũng đã giảng rất nhiều, cái gọi là tác quán chính là chuyển biến quan niệm, đem những quan niệm sai lầm, quan niệm cũ trước kia của chúng ta, y theo sự khai thị của Phật, y theo sự chỉ dẫn của Phật, mà chuyển nó lại, quán chính là ý nghĩa này. Phải chuyển quan niệm của phàm phu thành quan niệm của Phật Bồ Tát, như vậy mới đúng, phải có cái nhìn giống như Phật Bồ Tát.