Những Lời Khai Thị Trí Huệ Trong Kinh Kim Cang
Chủ Đề 373: Thể Hội Một Niệm Tâm Tánh, Với Các Chúng Sanh Vốn Là Một Thể, Vả Lại Thể Vốn Không Tịch
Chủ giảng: Pháp sư Tịnh Không
Thời gian: Tháng 05 năm 1995
Địa điểm: Cư Sĩ Lâm Phật Giáo Singapore
Trích lục từ: Báo cáo nghiên cứu Kim Cang Bát Nhã (Tập 031)
Chuyển ngữ: Tịch Minh
— ❖ —
【Thể hội một niệm tâm tánh, với các chúng sanh vốn là một thể, vả lại thể vốn không tịch. Sau đó cảm ứng thần tốc, thành tựu tự nhiên dễ dàng.】
Đoạn văn này giải thích làm thế nào để cầu được Tam Bảo gia trì, làm sao để được chư Phật hộ niệm, làm sao để được chư thiên thiện thần ủng hộ, tất cả đều nằm ở câu này. Đoạn phía trước nói về việc dựa vào tự lực. Chính mình chịu dụng công, chịu nỗ lực, chịu đoạn ác tu thiện, chịu chuyển phiền não thành Bồ-đề, thì nhất định sẽ được Phật Bồ-tát gia trì, Phật Bồ-tát bảo hộ. Thế nhưng, tình trạng được Phật Bồ-tát gia trì, bảo hộ ở mỗi người lại không giống nhau. Sự gia trì rõ ràng, sự bảo hộ hiển rệt, chúng ta cũng có thể cầu được, đây gọi là cầu cảm ứng đạo giao; chúng sanh có cảm, Tam Bảo liền có ứng. Vì sao lại có cảm ứng đạo giao? Đạo lý của nó chính là “một niệm tâm tánh” của chính chúng ta. Thế nào gọi là “một niệm tâm tánh”? Câu nói này rất quan trọng, dùng lời đơn giản nhất để nói, thì đó chính là chân tâm, là điều mà trong các buổi giảng chúng ta thường nhắc đến: tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm từ bi; đây chính là một niệm tâm tánh. Chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, từ bi, tuy nói là bốn, nhưng thực chất là một. Chân tâm của chúng ta chính là chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, từ bi; cho nên trong cuộc sống hằng ngày, ở chỗ đối nhân xử thế tiếp vật, phải bồi dưỡng chân tâm, bồi dưỡng sự chân thành. Người khác đối với ta có chân thành hay không, đừng nên gạn hỏi, căn bản là không cần bận tâm, không cần phải phân biệt chấp trước. Ta đối với người có chân thành hay không, ta đối với việc có chân thành hay không, ta đối với vật có chân thành hay không? Phải tự hỏi mình, xoay lại tự hỏi chính mình, đừng đi hỏi người khác; người khác có thành thật hay không chẳng can dự gì đến ta, quan trọng là chính mình.
Thế gian có một hạng người rất kỳ lạ, sau khi nghe Phật pháp xong liền nói: “Thưa Pháp sư, người ta rõ ràng lừa gạt con, con lại còn phải thành tâm thành ý đối xử với họ, chẳng phải con trở thành kẻ ngốc sao? Thật không cam tâm, không tình nguyện! Anh gạt tôi, tôi cũng gạt anh”, tâm báo thù quá mãnh liệt. Tôi liền bảo người đó: “Họ đọa địa ngục, anh cũng đi theo xuống đó sao? Họ đi vào địa ngục, tôi không đi theo không được, vậy đó chẳng phải là kẻ ngốc sao?” Lý và sự đều phải thấu suốt rõ ràng. Việc họ dùng hư vọng tâm, lừa gạt một số chúng sanh, là họ đang tạo nghiệp tam đồ. Ngày nay tôi muốn thành Phật, muốn thành Bồ-tát; Phật và Bồ-tát đều nương vào chân tâm mà thành tựu! Kinh Kim Cang dạy chúng ta “nhi sanh kỳ tâm” (mà sanh tâm đó), là sanh cái tâm này, phải sanh tâm thành Phật, như vậy mới đúng. Chân tâm cùng với chúng sanh, với tất cả chúng sanh vốn là một thể, với chúng sanh trong lục đạo, với chúng sanh trong địa ngục A-tỳ cũng là một thể. Chúng sanh vì sao lại trôi lăn trong luân hồi, vì sao đọa vào tam đồ? Là do mê, mê mất tự tánh; cũng có nghĩa là, mê mất đi một niệm tâm tánh. Một niệm chính là chân, hai niệm chính là vọng. Có ngã, có nhân chính là hai niệm; có tự, có tha cũng là hai niệm; hai niệm không phải là tâm tánh, không phải là chân tâm, không phải là bản tánh. Trên kinh Đại thừa thường nói “chân tâm ly niệm” (chân tâm lìa các niệm), trong chân tâm hoàn toàn không có vọng niệm.
Chúng ta xem Lục Tổ Đàn Kinh, Lục Tổ lúc ở Quảng Đông, nay là chùa Quang Hiếu, tình cờ gặp lúc Pháp sư Ấn Tông đang giảng Kinh Niết Bàn. Lá phướn bên ngoài bị gió thổi tung bay, có người ở đó tranh luận xem rốt cuộc là gió động hay là phướn động? Người thì nói phướn động, người lại nói gió động; Ngài thấy hai bên tranh luận không dứt, liền chen ngang một câu: “Chẳng phải gió động, cũng chẳng phải phướn động, là tâm nhân giả động”. Câu nói này được Pháp sư Ấn Tông nghe thấy, ngài Ấn Tông biết người này không phải là người thường. Liền mời Ngài lên ghế trên, hỏi thăm lai lịch, mới biết Ngài chính là vị Tổ Thứ Sáu đắc pháp ở Hoàng Mai, liền vô cùng cung kính và thỉnh giáo Ngài. Ấn Tông hỏi: “Lúc ngài ở Hoàng Mai, Ngũ Tổ thường thuyết pháp, Ngũ Tổ giảng giải về thiền định và giải thoát như thế nào?” Năng đại sư nói rất hay: “Thiền định, giải thoát là nhị pháp, nhị pháp không phải là Phật pháp”. Rơi vào số hai thì không còn là một niệm tâm tánh, trong một niệm tâm tánh không có những vọng niệm này. Thiền định, giải thoát, Bồ-đề, Niết-bàn, Ngũ Tổ có giảng không? Thường xuyên giảng. Nhưng Năng đại sư biết cách nghe. Thế nào gọi là biết cách nghe? Lìa danh tự tướng, lìa ngôn thuyết tướng, Ngài biết hội quy về tự tánh. Người biết nghe, như ngạn ngữ có câu rất hay, nghe pháp phải “tiêu quy tự tánh”; tiêu quy tự tánh chính là một niệm tâm tánh. Lý và sự đều thấu suốt, trở về trong tự tánh, thảy đều dung hợp thành thanh tịnh bình đẳng. Khi khởi tác dụng thì chính là Hậu đắc trí, vô lượng sai biệt trí; khi không khởi tác dụng thì hoàn toàn dung nhiếp trong tự tâm, là một khối thanh tịnh bình đẳng. Bao nhiêu người nghe giảng, nhưng chỉ có một mình Năng đại sư nghe lọt tai, tiêu quy tự tánh; còn những người khác nghe xong đều rớt vào trong ý thức, đều ở đó hư vọng phân biệt. Ấn Tông vẫn muốn nghe xem Nhẫn Hòa thượng ở Hoàng Mai giảng thế nào về giải thoát, giảng thế nào về thiền định; qua đó bạn có thể thấy sự phân biệt chấp trước của Pháp sư Ấn Tông vẫn chưa rời khỏi. Câu trả lời của Lục Tổ đối với ngài ấy là hoàn toàn dung hợp thành một khối, hoàn toàn dung nhập vào trong tự tánh, cảnh giới đó hoàn toàn khác biệt; sự cao thấp chính nằm ở chỗ này, bạn liền có thể nhìn thấy rành rõ, minh bạch. Cho nên đứng trên tâm tánh mà nói, Phật và chúng sanh là một thể.