TU HOA NGHIÊM ÁO CHỈ VỌNG TẬN HOÀN NGUYÊN QUÁN
Người giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không
Tập 26
Các vị pháp sư, các vị đồng tu, xin mời ngồi!
Mời xem Tu Hoa Nghiêm Áo Chỉ Vọng Tận Hoàn Nguyên Quán, kinh văn tờ thứ năm, xem ở hàng sau cùng: “Thí giới nhẫn tấn cập thiền định, trí tuệ phương tiện thần thông đẳng”. Hai câu này là nói kinh Hoa Nghiêm, Bồ-tát Văn Thù hướng dẫn chúng Bồ-tát tu hành mười Ba La Mật. Chúng ta đã học đến tinh tấn, ngày hôm nay chúng ta học thiền định, Bát nhã.
Thiền định.
Trong kinh đại thừa, liên quan đến góc độ này Phật nói rất nhiều, có thể xem thấy nhiều nơi ở trong kinh luận, vậy chúng ta theo cách nói thông thường phổ thông nhất, đơn giản giới thiệu với mọi người. “Phạn ngữ thiền na, Hoa ngôn tĩnh lự ”, chúng ta dịch thành ra nghĩa Trung văn chính là Tĩnh lự, Thiền na là tĩnh, nó có ý nghĩa tĩnh lự ngay trong đó. “Chuyên tâm hấp niệm thủ nhất bất tán chi vị dã ”, thực tế mà nói, chúng ta thông thường đem nó dịch thành Thiền định. Thiền tiếng phạn là thiền na, định là chữ Trung văn, ý nghĩa của chữ định này rất gần với Trung văn, thế nhưng tuyệt nhiên không hoàn toàn như nhau, bởi vì Trung văn trong chữ định không thấy được có lự. Lự, thực tế mà nói chính là quán, giác quán, họ rõ ràng tường tận, thông suốt thấu đáo, cho nên cái định này của họ là linh động hoạt bát, không phải khô cứng. Nếu như trong định không có quán, cái định này tu thành gọi là Vô tưởng định, công phu cũng tương đối khả quan. Loại định này sau khi tu thành, họ tương lai vãng sanh là “Vô tưởng thiên” trong trời Tứ Thiền. Vô tưởng định là nhân, vô tưởng thiên là quả báo của họ, vì sao vậy? Tuy là có định nhưng họ chưa có tuệ, hay nói cách khác, không có huệ thì không thể phá vô minh, phiền phức chính ngay chỗ này. Cho nên Phật pháp dạy bảo chúng ta giới-định-huệ tam học rất là quan trọng, không chỉ là Thích Ca Mâu Ni Phật dạy chúng ta, mười phương ba đời tất cả chư Phật giáo hóa chúng sanh đều là nhân giới được định, do định khai huệ mà thành tựu. Cái thành tựu này chính là thành tựu Vô Thương Bồ-đề. Ở Trung Quốc chúng ta thường hay nghe đến đại triệt đại ngộ, “minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật”, đó chính là công lực của huệ.
Huệ từ đâu mà có? Huệ từ định mà có. Do đây có thể biết, cái huệ này không phải có được từ ngay trong kinh giáo, không phải học được từ bên ngoài. Các vị nhất định phải nên biết, học được từ bên ngoài gọi là tri thức không phải là trí tuệ. Vậy thì tu học Phật pháp, không thể thể hội chân thật nghĩa của Phật, y theo văn tự mà tu học, giới cũng có thể giữ được tốt, cũng có thể được định, thế nhưng huệ không thể khai, vậy thì phải làm sao? Vậy thì cái học đó gọi là Phật học. Chỗ này các vị nhất định phải rõ ràng, Phật học không thể giải quyết được vấn đề, Phật huệ thì có thể giải quyết được vấn đề. Phật huệ từ đâu mà có? Xin nói với các vị, Phật huệ là chính mình vốn có. Thế Tôn ở trong phẩm Xuất Hiện, Kinh Hoa Nghiêm nói với chúng ta, tất cả chúng sanh đều có “trí tuệ đức tướng Như Lai”. Tất cả chúng sanh phạm vi này rất lớn, bên trên từ Phật Bồ-tát của mười pháp giới, phía dưới đến ba đường chúng sanh địa ngục, thảy đều bao gồm hết, không chỉ bao gồm những chúng sanh hữu tình này, như trên Kinh Hoa Nghiêm đã nói “tình dữ vô tình, đồng viên chủng trí”, vậy thì nó bao gồm hết thảy chúng sanh. Nói chúng sanh này là chúng sanh nghĩa rộng, chúng sanh nghĩa rộng là bổn ý của kinh này, ý nghĩa là chúng duyên hòa hợp mà sanh khởi ra hiện tượng thì gọi là chúng sanh. Động vật là chúng duyên hòa hợp mà sanh ra; bốn đại năm uẩn, thực vật cũng là chúng duyên hòa hợp mà sanh ra; khoáng vật cho đến hiện tượng tự nhiên, không có thứ nào không phải là chúng duyên hòa hợp mà sanh khởi ra hiện tượng, cho nên hai chữ chúng sanh này phạm vi bao gồm của nó quá lớn, không có thứ nào mà không bao gồm trong đó. Cho nên ý nghĩa của hai chữ chúng sanh này chúng ta phải hiểu rõ, tuyệt nhiên không riêng chỉ nhân loại, hoặc là chuyên chỉ loài súc sanh, chúng sanh hữu tình trong sáu cõi, phạm vi đó còn lớn hơn, không chỉ là những thứ này. Mỗi mỗi đều có trí tuệ đức tướng Như Lai. Hiện tại chúng ta dần dần hiểu rõ, bạn thấy chúng sanh hữu tình nói họ có trí tuệ đức tướng Như Lai. Như Lai là tự tánh, tự tánh vốn đủ trí tuệ đức tướng, nếu chúng ta muốn hỏi, những thực vật này những khoáng vật này cũng có hay sao? Thật có!
Tiến sĩ Giang Bổn Thắng, Nhật Bản thí nghiệm nước cho chúng ta xem, chúng ta từ trong thí nghiệm của ông hiểu rõ, mười mấy năm gần đây ông dùng nước để làm thí nghiệm. Nước là khoáng vật, không phải thực vật, thông qua thí nghiệm của ông, chân thật chứng minh nước có kiến-văn-giác-tri, có thọ-tưởng-hành-thức, nó biết nhìn, nó biết nghe. Bạn cho nó xem văn tự, không luận là viết văn tự của nước nào, nó thảy đều xem được, viết ra chữ ái, dùng Trung văn viết, dùng Anh văn viết, dùng Pháp văn viết, dùng văn A-Rập viết, không luận dùng loại văn tự nào viết, nó đều hiểu, nó đều có thể thấy, đều nhận biết, thông minh hơn con người chúng ta. Nó biết nghe, biết nghe âm nhạc, chúng ta mở nhạc cổ điển cho nó nghe thì kết tinh của nó phản ứng ra rất đẹp, dùng âm nhạc phương tây hiện tại cho nó nghe thì hiển thị ra kết tinh rất là khó coi. Nó hiểu được ý của người, chúng ta khởi tâm động niệm một cái thiện niệm, nó liền ứng thiện đối với bạn, ác niệm thì nó liền biểu thị ra thô xấu để ứng với bạn. Cho nên chúng ta từ trong cái thực nghiệm này, lại xem thấy trong kinh điển dạy bảo chúng ta, chúng ta liền biết được cả thảy vũ trụ, ngay hư không đều là thuộc về có cơ thể, cũng chính là nói nó sống, không phải nó chết. Hư không cũng có kiến-văn-giác-tri, nếu như không có kiến-văn-giác-tri thì hư không làm sao có thể sanh ra thay đổi? Hư không làm sao có thể truyền đạt tin tức? Chúng ta trong lúc đi tham quan cũng đã từng làm qua thí nghiệm, chúng ta xem thấy mây ở trên thiên không, đám mây đó không lớn lắm, chúng ta sau khi thấy rồi ngắm nhìn nó, để mắt nhìn vào nó, chú ý nó, trong lòng nghĩ tan đi, tan đi, tan đi, qua mấy phút nó thật tan mất, thật là tan biến hết không còn nhìn thấy lại nữa. Lại chọn tiếp một đám mây khác, không nên chọn quá lớn, quá lớn thì thời gian sẽ lâu, chọn lấy một đám mây nhỏ nhỏ, bạn cũng nhìn vào nó, trong lòng bạn nghĩ tan đi! tan đi! Niệm qua vài câu thì nó tan mất. Việc này nói rõ cả thảy vũ trụ, cho nên Phật pháp nói rất hay “tất cả pháp từ tâm tưởng sanh”, bạn nghĩ thế nào thì nó biến ra thế đó. Thế nên từ cái đạo lý này chúng ta cũng liền có thể dẫn ra, dần dần hiểu rõ loại hiện tượng này, hoặc giả là dự ngôn cổ xưa, dự ngôn của hiện đại, phần nhiều đều là nói cho chúng ta nghe tin tức có những tai nạn, đến lúc thì lại không có, có phải là họ nói sai không? Cách nghĩ của tôi không phải vậy, họ không hề nói sai, họ nói ra là lúc xưa, hiện tại cách nhiều ngày như vậy, trong lòng người có thay đổi, lòng người lúc đó bất thiện, cho nên dự đoán đến lúc nào đó thì có tai nạn, đến lúc này lòng người đổi thiện thì tai nạn không đến, thiên biến vạn hóa không thể nào suy đoán. Suy đoán là cho chúng ta một tin tức, những tin tức này thực tế mà nói, thảy đều thuộc về việc tốt, chúng ta biết được vào lúc nào đó sẽ có những tai nạn gì. Chúng ta làm thế nào hóa giải? Dùng tâm niện để hóa giải, đoạn tất cả ác, tu tất cả thiện, làm cho tâm của chúng ta thiện, lời nói thiện, việc làm thiện, không gì không thiện, tất cả nghiệp nhân bất thiện không có, thì quả báo bất thiện sẽ không xuất hiện. Cho nên phương pháp nhất định phải lựa chọn, trong đại thừa giáo đã dạy cho chúng ta phương pháp để hóa giải, trong hóa giải đặc biệt là nhân sự, vì sao vậy? Ý niệm của con người rất mạnh, chúng ta muốn hóa giải tai nạn của thế gian, thì trước phải hóa giải mâu thuẫn giữa người và người, đối lập giữa người và người, hiểu lầm giữa người và người, có thể hóa giải những thứ này tai nạn tự nhiên liền sẽ không còn. Có thể hóa giải được hay không? Ngay động vật thực vật chúng ta còn có thể tương thông được với nó, đều có thể tương ưng, con người vì sao không thể hóa giải được? Không thể hóa giải là oán hận quá sâu rồi, chúng ta phải có lòng nhẫn nại, việc này phải có định lực, không nên khẩn trương. Chúng ta từ đầu đến cuối dùng tâm chân thành để đối đãi, thời gian lâu rồi tự nhiên liền có cảm ứng, có lẽ phải mười năm, cũng có lẽ hai mươi năm, cũng có lẽ ba bốn mươi năm, đến khi họ lâm chung, họ mới tỉnh ngộ ra, người nào đó là người tốt, ta đã trách lầm họ rồi, thật có vậy, không phải không có. Người có lương tâm lúc nào thì phát hiện? Nghiệp chướng của chính họ được tiêu rồi mới có thể phát hiện, nếu nghiệp chướng của họ chưa tiêu thì rất khó mà phát hiện. Cho nên chúng ta phải ở bên cạnh giúp họ tiêu nghiệp chướng, mỗi ngày chúng ta niệm Phật, tụng kinh, lạy Phật đều hồi hướng đến cho họ, hy vọng họ nghiệp chướng sớm ngày tiêu trừ, họ liền có thể giác ngộ, họ liền có thể quay đầu là bờ. Đây là Phật Đà dạy bảo chúng ta.