/ 98
1

TỊNH ĐỘ ĐẠI KINH GIẢI DIỄN NGHĨA

Tập 98

Chủ giảng: Lão pháp sư Tịnh Không

Thời gian: Ngày 06 tháng 08 năm 2010

Địa điểm: Giảng đường Hoa Nghiêm Malaysia

Việt dịch: Ban biên dịch Pháp Âm Tuyên Lưu


Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin mời ngồi. Mời xem Đại Thừa Vô Lượng Thọ Kinh Giải, trang 114, bắt đầu xem từ kinh văn, chữ lớn, xem từ kinh văn:

Đều cùng tu theo đức của đại sĩ Phổ Hiền, đầy đủ vô lượng hạnh nguyện, an trụ trong hết thảy pháp công đức. Đi khắp mười phương, hành quyền phương tiện, vào Pháp tạng của Phật, rốt ráo đến bờ kia.

Đây là tổng cương lĩnh của phẩm kinh này, tán thán công đức của Bồ-tát Phổ Hiền. Chúng ta xem chú giải của Hoàng Niệm lão, “Phẩm này từ câu ‘đều cùng tu theo’ cho đến câu ‘không thể nghĩ bàn’ ở cuối phẩm”, trong bản sách này của chúng ta là trang 147, chúng ta lật ra xem thử, đây là kinh văn đến câu cuối cùng là tổng kết, toàn là tán thán đức của Bồ-tát Phổ Hiền. Lão cư sĩ nói “đều là tán thán đức của đại sĩ Phổ Hiền và tất cả Bồ-tát trong hội”. Trên thực tế, đức của hết thảy Bồ-tát trong hội toàn là đức của đại sĩ Phổ Hiền. Phẩm kinh văn này tương đối dài, có thể nói là từng câu từng chữ chúng ta đều phải nên học tập, cần phải đem nó thực tiễn vào trong đời sống, trong công việc, đối nhân xử thế, vậy thì chúng ta chính là tu đức của đại sĩ Phổ Hiền.

Chúng ta xem chú giải tiếp theo: “Đại sĩ chính là Bồ-tát, tức là hữu tình tâm đạo lớn.” Người xưa dịch là chúng sanh tâm đạo lớn, đại sư Huyền Trang dịch là hữu tình giác. Hữu tình tâm đạo lớn, hay nói cách khác, tình của các ngài vẫn chưa đoạn sạch, cho nên các ngài là Bồ-tát. Trước tâm đạo lớn nếu không có hai chữ này, thì đó chính là Phật-đà, khác biệt ở chỗ này. “Sĩ là sĩ phu”, người Trung Quốc chúng ta gọi là sĩ đại phu, người đọc sách dạy học. Vào thời xưa, người dạy học này, hiện nay gọi là thầy giáo, thời xưa không gọi là thầy giáo mà gọi là phu tử, Khổng phu tử chính là thầy Khổng, hiện nay gọi là thầy giáo, người xưa gọi là phu tử. Cho nên gọi là sĩ phu, đây chính là người đọc sách dạy học. “Chữ đại thì đã được giải thích trong từ ‘tâm đạo lớn’ ở phần trước”, ở đây không lặp lại nữa, không nói nữa. “Trong hội kinh này, lấy Bồ-tát Phổ Hiền làm thượng thủ của hết thảy Bồ-tát”, dùng Bồ-tát Phổ Hiền để đại biểu cho vô lượng vô biên Bồ-tát tham gia pháp hội, lấy ngài để đại biểu. “Các vị Bồ-tát xuất gia, tại gia khác như Văn-thù, Di-lặc, Hiền Hộ v.v.”, thảy đều bao gồm cả. “Cùng vô lượng vô biên các đại Bồ-tát từ mười phương đến hội, thảy đều tuân hành theo đức của đại sĩ Phổ Hiền.” Chúng ta ngay trong mấy câu kinh văn ngắn ngủi này, liền thể hội được rất rõ ràng rằng, hội Vô Lượng Thọ này với Hoa Nghiêm không hai không khác. Trong kinh Hoa Nghiêm biểu pháp, cũng lấy Bồ-tát Phổ Hiền làm con trưởng, đây chính là ý nghĩa của thượng thủ nói ở chỗ này. Đoạn sau ngài cũng nói đến: “Đại sĩ Phổ Hiền là con trưởng trong kinh Hoa Nghiêm, đức tột cùng của ngài chính là mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc.” Đức của Bồ-tát Phổ Hiền nói đến chỗ tột cùng chính là câu này, mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Do đây có thể biết sự quan trọng của mười đại nguyện vương này. Kinh luận cũng như đại đức xưa đều thường nói, Bồ-tát không tu mười nguyện Phổ Hiền (chính là hạnh Phổ Hiền), thì không thể viên thành Phật đạo. Do đây có thể biết, hạnh nguyện Phổ Hiền là môn học bắt buộc của tất cả Bồ-tát. Cương lĩnh tuy chỉ có mười điều, mười câu, nhưng hạnh vi tế thì vô lượng vô biên. Chúng ta từ kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo có thể thể hội ra được, thập thiện chỉ có mười điều, ở Bồ-tát Đại thừa đem mười điều này mở rộng ra thành 84.000 hạnh vi tế, bạn xem mười điều có thể biến thành 84.000 điều, là Bồ-tát. Mười nguyện Phổ Hiền chẳng chỉ dừng nơi con số này, là vô lượng vô biên, hạnh nguyện vô số vô tận, không ngoài mười cương lĩnh này, mới biết mười cương lĩnh này quan trọng biết bao. 84.000 nhớ không xuể, mười điều này dễ nhớ, mười điều nhớ kỹ rồi, thực tiễn rồi, thì 84.000 hạnh vi tế liền viên mãn ngay.

Chỗ này đã nói ra tên gọi của mười nguyện, “tức là mười loại hạnh nguyện rộng lớn của Đại sĩ. Thứ nhất, lễ kính chư Phật”, chúng ta giới thiệu đơn giản từng điều một. Quý vị phải biết được điều thứ nhất này, mười điều này giống như một tòa nhà mười tầng vậy, điều thứ nhất là tầng thứ nhất, quý vị phải biết, không có tầng thứ nhất thì sẽ không có tầng thứ hai, không có tầng thứ hai thì sẽ không có tầng thứ ba. Nói cách khác, phần sau chắc chắn bao gồm phần trước, phần trước chưa chắc bao gồm phần sau, có lễ kính chưa chắc có xưng tán, có xưng tán khẳng định có lễ kính. Thế là chúng ta liền hiểu rõ, tu hành phải có thứ lớp, không thể vượt bậc, mấy điều phía trước tôi đều không cần, tôi cần điều phía sau, có được không? Tuyệt đối không làm được. Lễ kính đặt ở vị trí thứ nhất, lễ là lễ tiết, đây là nhìn từ vẻ bề ngoài; kính là thành kính, là tánh đức của nội tâm, tánh đức lưu lộ ra bên ngoài tự nhiên chính là lễ. Lễ có cần học không? Có tâm chân thành cung kính, không cần phải học mà tự nhiên cũng hợp lễ, đây là thật, một chút cũng không giả. Nếu bên trong không có tâm thành kính, bên ngoài học lễ, thì lễ đó là giả dối, không phải thật, người mắt sáng vừa nhìn liền thấu suốt, là giả, cố ý làm ra. Chúng ta liền hiểu được, thực chất của lễ là kính, thảy đều cung kính, tâm cung kính là tánh đức, trong tự tánh vốn sẵn có, không phải học mà được. Chúng ta hiện nay phải học lễ, vì sao vậy? Đã mê mất tự tánh, thời gian mê quá dài, mê quá lâu, cho nên tâm thành kính không còn thấy nữa, dùng là tâm gì? Tâm giả dối, mặt trái của thành kính là giả dối. Chúng ta ai chịu thừa nhận chính mình dùng tâm là giả dối, đều không thừa nhận, đều cho rằng tâm của mình là chân tâm. Nhưng Phật Bồ-tát thấy tâm mà chúng ta dùng là giả dối, không phải chân tâm. Giả dối là gì? Là a-lại-da, vọng tâm, không phải chân tâm. Ranh giới giữa chân và vọng là gì? Người hiện nay nói là định nghĩa, dùng gì để phân định ranh giới? Chân tâm vĩnh hằng không đổi, vọng tâm thì từng sát-na đang biến hóa. Dùng đạo lý này để phân định, chúng ta cũng sẽ phục, tâm của chúng ta quả thật không chân thành, niệm trước diệt rồi, niệm sau sanh ra, sanh diệt không ngừng, nó không dừng lại. Tốc độ nhanh đến mức chúng ta không cách nào tưởng tượng. Nhà khoa học lượng tử hiện đại đã phát hiện ra, tốc độ của nó quá nhanh. Phật, Pháp thân Bồ-tát, các ngài trong cảnh giới thiền định thâm sâu nhìn thấy, trong thiền định nhìn thấy là cảnh giới hiện lượng, thiền định cực sâu, tốc độ vô cùng nhanh, dao động vô cùng yếu ớt, các ngài đều có thể nhìn thấy rõ ràng tường tận. Hiện nay nhà khoa học dùng máy móc tinh vi quan sát được, còn Phật Bồ-tát là nhìn thấy ở trong định. Chúng ta không thể không khâm phục những nhà khoa học này, họ dựa vào máy móc tinh vi cũng nhìn thấy, nhìn thấy ba tướng tế của a-lại-da.

/ 98