/ 92
8

TỊNH ĐỘ ĐẠI KINH GIẢI DIỄN NGHĨA

Tập 92

Chủ giảng: Lão pháp sư Tịnh Không

Thời gian: Ngày 01 tháng 08 năm 2010

Địa điểm: Giảng đường Hoa Nghiêm Malaysia

Việt dịch: Ban biên dịch Pháp Âm Tuyên Lưu


Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, mời ngồi. Mời xem Đại Thừa Vô Lượng Thọ Kinh Giải, trang 106, bắt đầu xem từ dòng thứ 8, cũng là đoạn thứ 2:

“Bồ-tát Di-lặc, cùng hết thảy Bồ-tát trong Hiền kiếp đều đến tụ hội.” Câu kinh văn này, Niệm công trong bản Chú Giải đã giới thiệu cho chúng ta, Di-lặc là tiếng Phạn, dịch sang nghĩa Trung Quốc là “Từ Thị”, từ bi. “Là họ của Bồ-tát. Tên ngài là A-dật-đa.” A-dật-đa là tiếng Phạn, dịch sang nghĩa Trung là “Vô Năng Thắng”, ý nghĩa chính là thù thắng không gì bằng. “Đầy đủ là Từ Vô Năng Thắng”, cũng chính là nói trong các Bồ-tát thì Bồ-tát Di-lặc là từ bi nhất. Trên thực tế, Phật Phật đạo đồng, chư Phật Như Lai, Pháp thân Bồ-tát không có ai là không bình đẳng, trí tuệ, đức năng, tướng hảo đều bình đẳng. Những danh hiệu như vậy trong kinh điển không gì chẳng phải là ý nghĩa của biểu pháp, pháp môn nào dùng vị Bồ-tát nào làm đại biểu, là ý nghĩa biểu pháp. Di-lặc đặc biệt đại biểu sự thù thắng của từ bi, như Văn-thù đại biểu sự thù thắng của trí tuệ, Phổ Hiền đại biểu sự thù thắng của thực hành, Địa Tạng đại biểu sự thù thắng của hiếu thân tôn sư, thật ra đều là bình đẳng, điều này chúng ta phải hiểu được. Trong Phật pháp, từ hiện thân, hành sự, ngôn ngữ, danh hiệu không cái nào là không nhằm biểu pháp. Nói cách khác, hết thảy đều là vì phương tiện trong dạy học, mục đích chẳng qua là khiến cho hết thảy chúng sanh thấy được hình tướng của Bồ-tát, đây là thân hành, nghe được giáo huấn của Bồ-tát, có thể có chỗ giác ngộ, trở về tự tánh, đây là mục tiêu cuối cùng trong học tập Phật pháp.

Tiếp theo ngài nêu ra ví dụ để nói, “Di-đà Sớ Sao nói”. Sớ Sao là trước tác của đại sư Liên Trì, trong Sớ Sao có một đoạn như sau, những gì nói trong đoạn này đều là những điều nói trong kinh điển, “do khi còn trong bụng mẹ, đã sẵn có tâm từ, nên lấy đó làm tên họ”. Khi người mẹ mang thai, tâm từ bi liền biểu hiện vô cùng rõ rệt, cho nên bộ tộc của ngài dùng chữ Di-lặc. Di-lặc là họ của ngài, họ vốn là bộ tộc, ở Ấn Độ cổ đại là như vậy, mà ở Trung Quốc cũng như vậy. Trung Quốc cổ đại đều lấy họ làm tên gọi của bộ tộc. “Lại nữa, trong đời quá khứ, gặp Đại Từ Như Lai, nguyện có cùng danh hiệu này, liền đắc được tam-muội tâm từ.” Kiếp lâu xa về trước Bồ-tát đã gặp Phật nghe pháp, ngài gặp được vị Phật này hiệu là Đại Từ Như Lai, ngài vốn là đệ tử của Đại Từ Như Lai, phát nguyện đời đời kiếp kiếp hy vọng có cùng danh hiệu với thầy. Danh và thực nhất định tương xứng, danh hiệu giống nhau, trí tuệ, đức năng, hành trì nhất định cũng không khác biệt, đây là thầy trò đạo hợp, là truyền nhân của thầy. Phát nguyện này liền đắc được tam-muội tâm từ. Tam-muội là tiếng Ấn Độ, dịch sang nghĩa Trung Quốc gọi là chánh thọ, thọ dụng bình thường, cũng dịch là chánh định, tâm đã định rồi, định trong đại từ đại bi.

“Lại nữa, xưa kia ngài là bà-la-môn, hiệu là Nhất Thiết Trí, trong 8.000 năm tu tập hạnh từ.” Trong đoạn này đã giảng về rất nhiều thời đại, cũng chính là sự tích tu hành trong đời quá khứ của Bồ-tát Di-lặc, đây lại là một thời đại, ngài từng hiện thân là bà-la-môn. Bà-la-môn giáo của Ấn Độ xưa là tôn giáo vô cùng cổ xưa, lịch sử lâu đời, hậu thân của chúng chính là Hindu giáo hiện nay, người Trung Quốc chúng ta gọi là Ấn Độ giáo. Nghe nói nó có hơn 10.000 năm lịch sử, lời này chúng ta có thể tin tưởng được, người Ấn Độ không quá xem trọng lịch sử, họ chú trọng tu định, khai ngộ. Điều này cũng có đạo lý, tu định khai ngộ là thật, ngoại trừ điều này ra thì giống như Phật đã nói trong kinh, “phàm những gì có hình tướng đều là hư vọng”, “hết thảy pháp hữu vi như mộng huyễn bọt bóng”, những điều này đều là sự thật. Hiện nay trên thế giới thừa nhận lịch sử của họ ít nhất là 8.500 năm, họ nói lịch sử của Phật giáo chỉ có hơn 2.500 năm, nói như vậy thì Ấn Độ giáo ít nhất phải vượt hơn Phật giáo 5.000 năm, thật sự là một tôn giáo cổ xưa. Bà-la-môn giáo xem trọng tu định, Phật trong kinh điển thường giảng đến tứ thiền bát định, đây là Bà-la-môn giáo của Ấn Độ xưa đề xướng, vào thời Ấn Độ bấy giờ, tất cả tôn giáo, bao gồm các học phái, cũng đều xem trọng tu thiền định. Trong định có thể đột phá các chiều không gian, có thể thấy quá khứ, cũng có thể thấy tương lai. Họ có năng lực nhìn thấy được toàn bộ tình trạng của lục đạo, học thuyết về lục đạo luân hồi là do họ nêu ra, đó là cảnh giới thân chứng trong định. Đây cũng thuộc về những gì mà triết học và khoa học nói, nhưng mà họ không có dùng máy móc công nghệ, họ dùng công phu thiền định mà hoàn toàn thấy được, hoàn toàn thông đạt hiểu rõ. Đây là ở nơi này giới thiệu đơn giản về Bà-la-môn giáo.

/ 92