Tịnh Độ Đại Kinh Giải Diễn Nghĩa
Tập 90
Chủ giảng: Lão pháp sư Tịnh Không
Thời gian: Ngày 27 tháng 07 năm 2010
Địa điểm: Hiệp hội giáo dục Phật-đà Hồng Kông
Việt dịch: Ban biên dịch Pháp Âm Tuyên Lưu
Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, mời ngồi. Mời xem Đại Thừa Vô Lượng Thọ Kinh Giải, trang 101, từ hàng thứ 5 từ dưới lên, bắt đầu xem từ “tôn giả A-nan vân vân”:
“Tôn giả A-nan vân vân. Đời Đường Tống dịch là A-nan-đà, gọi tắt là A-nan. Hán dịch là Khánh Hỷ, Hoan Hỷ, còn dịch là Vô Nhiễm. Ngài là con của vua Bạch Phạn, em họ của Phật. Sanh vào ngày Phật thành đạo. Vua Tịnh Phạn nghe tin thái tử thành Phật, lại nghe trong cung sanh con trai, càng thêm hoan hỷ. Bèn nói rằng: hôm nay đại cát, là ngày hoan hỷ. Bảo với sứ giả rằng: đứa trẻ ấy nên đặt tên là A-nan.” Chúng ta xem tới chỗ này. Tôn giả A-nan, trong đây có chữ vân vân, vân vân là còn có những người khác, bởi vì trong năm bản dịch gốc, bản liệt kê tên nhiều nhất có hơn 30 vị, khi cụ Hạ hội tập đã chọn lấy những vị biểu pháp quan trọng, còn những vị khác đều lược bớt đi, cho nên dùng chữ vân vân. Bản dịch đời Đường, bản dịch đời Tống đều dịch là A-nan-đà, đà là âm cuối, người Trung Quốc, đặc biệt là Trung Quốc xưa, thích đơn giản, nên lược bớt âm cuối, giống chữ Phật, sau chữ Phật có âm cuối là Phật-đà-da, âm cuối cũng bị lược bớt. Cho nên gọi tắt là A-nan, dịch sang nghĩa Trung Quốc là khánh hỷ, ý nghĩa của hoan hỷ, cũng có nghĩa là vô nhiễm, ngài là con của vua Bạch Phạn. Cha của Thế Tôn là vua Tịnh Phạn, có bốn anh em, mỗi người đều có hai con trai, bởi thế anh em họ của Phật Thích-ca có tám người, trong số tám người anh em họ thì Phật là lớn nhất, A-nan là nhỏ nhất, xếp vào hàng thứ tám. Là A-nan sanh nhằm ngày Phật thành đạo, Thích-ca Mâu-ni Phật 30 tuổi thành đạo, người em này nhỏ hơn Phật 30 tuổi, vì Phật thành đạo lúc 30 tuổi. Sanh nhằm ngày này, cũng là ngày Phật thành đạo, tin vui báo về hoàng cung, vua Tịnh Phạn nghe tin thái tử thành Phật, chứng quả rồi, lại nghe trong cung sanh ra đứa bé này, là em họ của Phật, chính là cháu trai của nhà vua, cho nên vô cùng hoan hỷ. Vua liền nói, hôm nay là đại cát, là ngày hoan hỷ, bảo người đến báo tin, đứa bé này nên đặt tên là A-nan, chính là A-nan-đà, mang ý nghĩa hoan hỷ.
“Hơn nữa, tôn giả đoan chánh thanh tịnh, như tấm gương sáng, thấy tướng mạo ngài, nghe tiếng ngài, xem oai nghi ngài, không ai không hoan hỷ, nên đặt tên như vậy.” Cái tên này là vô cùng phù hợp. A-nan cũng là bậc tái lai, không phải là người bình thường, Phật có 32 tướng 80 vẻ đẹp, A-nan có 30 tướng, cho nên rất không dễ. Đoan chánh thanh tịnh, như tấm gương sáng, loại đặc biệt tốt trong số những tấm gương sáng. Cho nên có người thấy đứa bé ấy, hoặc nghe tiếng nó nói, thấy động tác của nó, không ai không hoan hỷ, ai trông thấy cũng yêu mến đứa bé này, cho nên bác cả của nó đặt tên cho nó là A-nan, thực sự là danh xứng với thực. “Lại nữa, tôn giả theo Phật vào long cung và thiên cung mà tâm không ham đắm, nên gọi là Vô Nhiễm.” Sau khi xuất gia, Thích-ca Mâu-ni Phật từng dẫn ngài lên xem qua thiên cung, trời Dục giới, cũng đã từng đến thăm long cung, nơi Bồ-tát Đại Long ở, bất luận là ở long cung hay ở thiên cung, ngài đều không bị ô nhiễm, tâm địa thanh tịnh, cho nên danh hiệu này cũng có nghĩa là vô nhiễm. “Khi Phật 55 tuổi thì A-nan mới xuất gia”, A-nan xuất gia lúc 25 tuổi, “thị giả cho Phật 25 năm”, khi Thích-ca Mâu-ni Phật diệt độ, người Trung Quốc nói theo tuổi mụ là 80 tuổi, người nước ngoài nói theo tuổi thật, tuổi thật là 79 tuổi, ngài làm thị giả cho Phật 25 năm, chăm sóc Phật-đà 25 năm. “Những pháp do Phật tuyên thuyết, ngài đều nhớ giữ, không quên một chữ.” Trong các đệ tử của Phật-đà, ngài có trí nhớ tốt nhất, sức lý giải đặc biệt mạnh, chúng ta thấy được từ trong hội Lăng-nghiêm. Thế Tôn giảng kinh Lăng-nghiêm, ngài hoàn toàn có thể lý giải ý nghĩa mà Phật nói, lúc bấy giờ tôn giả Phú-lâu-na đã chứng Tứ quả La-hán, nghe không hiểu, A-nan có thể nghe hiểu, đây chính là chứng tỏ căn tánh của ngài không giống với người khác. Cho nên ngài truyền pháp tạng của Phật, tôn giả Ca-diếp truyền Thiền tông của Phật, Giáo hạ chính là A-nan truyền. Việc này đều có thể ghi nhớ, không quên một chữ là sự việc vô cùng không dễ, cho nên đây đương nhiên là bậc tái lai. “Kinh Niết-bàn xưng A-nan là bậc đa văn. Ca-diếp lại khen rằng: Nước biển lớn Phật pháp, chảy vào tâm A-nan. Nên gọi là đa văn đệ nhất.” Trong mười đại đệ tử, ngài là đa văn đệ nhất.