/ 81
6

Tịnh Độ Đại Kinh Giải Diễn Nghĩa

Tập 81

Chủ giảng: Lão pháp sư Tịnh Không

Thời gian: Ngày 16 tháng 07 năm 2010

Địa điểm: Hiệp hội giáo dục Phật-đà Hồng Kông

Việt dịch: Ban biên dịch Pháp Âm Tuyên Lưu


Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin mời ngồi. Mời xem Đại Thừa Vô Lượng Thọ Kinh Giải, trang 85, dòng thứ 2 từ dưới lên, bắt đầu xem từ chữ kinh:

“Kinh, tiếng Phạn là tu-đa-la. Dịch thẳng ra là sợi dây, dịch theo ý nghĩa là khế kinh. Chữ ‘khế’ có hai ý nghĩa: Một là khế lý, lý tức là lý thể thật tế. Hai là khế cơ, cơ là căn cơ, tức căn cơ của chúng sanh, đồng thời cũng chỉ cho thời cơ, thời tiết nhân duyên. Vì vậy, khế cơ là phù hợp với trình độ của chúng sanh và thời đại.” Chúng ta đọc tới chỗ này. Kinh là những lý luận và phương pháp do Thích-ca Mâu-ni Phật dùng để giáo hóa hết thảy chúng sanh khi ngài tại thế, thế nhưng vào thời ấy Thích-ca Mâu-ni Phật không viết thành tài liệu giảng dạy. Vào thời xưa thì đại khái là đều giống nhau, như Khổng tử ở Trung Quốc chỉ dùng lời nói để giáo huấn, không có sách giáo khoa, ngay cả đề cương cũng chẳng có. Chúng ta từ chỗ này mà xem xét, Phật giảng kinh dạy học 49 năm không một ngày nào gián đoạn, sau khi ngài viên tịch, các học trò từ trong ký ức, dùng văn tự ghi chép lại những lời thầy đã dạy, lưu truyền lại cho đời sau, đây chính là nguồn gốc của kinh điển Phật giáo. Kinh điển chính là bài giảng mà ngài đã dạy lúc đó, nay chúng tôi dùng từ bài giảng cho mọi người dễ hiểu. Phân lượng vô cùng lớn, kết tập là công việc gian truân, do tôn giả A-nan phúc giảng. Trong các đệ tử, cũng như trong số các đồng học, tôn giả A-nan là người có sức ghi nhớ tốt nhất, sở trường đặc biệt của ngài là khả năng ghi nhớ tốt, hầu như nghe qua một lần là vĩnh viễn không bao giờ quên, ngài có năng lực này, khả năng lý giải rất mạnh. Vì thế mọi người liền đề cử ngài phúc giảng, tức là nói lại một lần nữa những gì Thích-ca Mâu-ni Phật đã giảng lúc sinh thời. Có 500 vị đồng học, các đồng học đều chứng quả A-la-hán, các vị A-la-hán và Bồ-tát ngồi ở dưới nghe giảng, để chứng minh lời ngài giảng là không sai. Nếu có một vị nói: “A-nan, hình như câu này Phật chưa từng nói qua”, vậy thì câu này phải bị xóa bỏ đi, không được phép lưu truyền. Do đó, mục đích chủ yếu của sự nghiêm ngặt như vậy là nhằm giữ chữ tín với đời sau, không phải là đa số người thông qua, mà chỉ cần một người có ý kiến thì không được ghi chép lại. Vì thế, kinh điển này là được trải qua thẩm tra nghiêm ngặt; hay nói cách khác, từng câu nói đều phải do chính miệng Thích-ca Mâu-ni Phật nói ra. Đây là nguồn gốc của kinh điển.

Chữ “kinh” này là chữ Trung Quốc, chúng ta dùng chữ này để dịch từ tiếng Ấn Độ sang, tiếng Ấn Độ gọi là tu-đa-la, tu-đa-la vốn có nghĩa là sợi dây. Tại vì sao? Bởi vì ngày trước, khi những kinh này được viết vào thời kỳ đầu, là viết trên lá cây, lá cây bối-đa-la, đương nhiên thời đó vẫn chưa có giấy, dùng lá cây bối-đa-la, loại lá cây này rất bền, có thể giữ rất nhiều năm không bị hỏng. Lá cây được cắt thành từng tấm, cắt thành từng khổ dài, hai bên đục hai lỗ, mỗi bên đục một lỗ, rồi dùng dây xâu lại, dây xâu lại như vậy thì gọi là một quyển sách, khi lật thì sẽ lật như thế này. Quý vị đến Cố Cung có thể nhìn thấy kinh lá bối, đây là diện mạo sơ khai. Nếu dịch ý nghĩa của nó, thì việc dùng chữ “kinh” của Trung Quốc để dịch là rất hay, bởi vì những giáo huấn của cổ thánh tiên hiền Trung Quốc lưu lại, chúng ta đều xưng là kinh, do đó lời dạy của Phật cũng vô cùng quý báu, dùng chữ kinh này để dịch là rất hay. Trước chữ kinh có thêm một chữ khế, khế chính là khế lý, lý là lý thể thật tế, lý là gì? Lý là chân tướng sự thật. Nói theo cách hiện nay, lý thể thật tế là chân tướng của vũ trụ nhân sinh, nói vậy thì mọi người dễ hiểu. Do vậy, kinh nhất định giảng về chân tướng sự thật, không phải nói bừa, không phải nói tùy tiện, đây là chân tướng sự thật đầu tiên. Thứ hai là phải khế cơ, tức là phù hợp với trình độ của chúng sanh, nếu bạn giảng quá sâu thì sẽ nghe không hiểu, bạn giảng quá nông thì sẽ chẳng hứng thú, nhất định phải phù hợp, lại còn phải phù hợp với thời đại, cho nên giáo pháp này là sống động. Kinh Phật là do Phật nói, nhưng bạn xem, kinh điển qua mỗi triều đại đều có rất nhiều chú giải, những chú giải này là gì? Chú giải là khế cơ. Trong mỗi triều đại, trong mỗi một cộng đồng xã hội khác nhau, họ cần những gì, dùng phương pháp gì để giảng, đây là sống động. Lời Phật giảng là nguyên lý nguyên tắc, những tổ sư đại đức này giảng giải cho chúng ta thì sẽ diễn đạt một cách hiện đại hóa, người hiện nay đều có thể thọ dụng, đây gọi là khế cơ. Cần phải phù hợp với hai điều kiện này. Nếu nói khế cơ mà không khế lý, đây là ma nói, đây không phải Phật nói. Rất thích hợp với mọi người, mọi người rất thích nghe, rất thích nhưng không hợp lý, chẳng phải là chân tướng sự thật, đây là tà thuyết. Nếu như khế lý mà không khế cơ, đó gọi là lời vô ích, lý tuy rất hay, nhưng người ta nghe không hiểu, nghe xong không vận dụng được. Vì vậy nhất định phải phù hợp hai điều kiện này, vậy mới xưng là kinh điển. Đây là giới thiệu khái quát về hàm nghĩa của chữ kinh, trên thực tế nó còn có rất nhiều ý nghĩa khác, đồng học học Phật như chúng ta không thể không biết điều này, nếu không biết thì bạn là người ngoài nghề.

/ 81