/ 74
18

TỊNH ĐỘ ĐẠI KINH GIẢI DIỄN NGHĨA

Tập 74

Chủ giảng: Lão pháp sư Tịnh Không

Thời gian: Ngày 09 tháng 07 năm 2010

Địa điểm: Hiệp hội giáo dục Phật-đà Hồng Kông

Việt dịch: Ban biên dịch Pháp Âm Tuyên Lưu

Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin mời ngồi. Mời xem Đại Thừa Vô Lượng Thọ Kinh Giải, trang 80, dòng thứ nhất.

“Dưới đây chính thức giải thích tên đề kinh này.” “Chữ đầu tiên trong đề kinh là chữ Phật”, chữ thứ nhất, chữ thứ nhất là chữ Phật. “Phật là gọi tắt của Phật-đà trong tiếng Phạn”, trong tiếng Phạn còn có một âm cuối, gọi là Phật-đà-da, người Ấn Độ nói chuyện đều có âm cuối. Phật pháp tăng, pháp là đạt-ma, chúng ta thường nói đạt-ma-da, tăng-già-da. Người Trung Quốc ưa đơn giản, lược bỏ hết những âm cuối đó, Phật-đà-da chúng ta chỉ giữ lại một chữ Phật, âm cuối đều bỏ đi, cho nên đây là gọi tắt. “Nghĩa là giác”, ý nghĩa của chữ này giống với chữ “giác” trong từ “giác ngộ” của Trung Quốc, ý nghĩa là giác. Mặc dù ý nghĩa là giác, nhưng điều ở đây nói cùng với điều Trung Quốc nói vẫn là không giống nhau, ở đây nói đến ba loại giác. “Giác là đối với mê mà nói, mê thì là chúng sanh”, giác ngộ thì gọi là Phật. Giác này của Trung Quốc chúng ta không có ý nghĩa ba loại giác, còn ở đây có ba loại giác. “Ba giác đều viên mãn thì gọi là Phật.” Tiếp theo nói, là ba giác nào? “Ba giác là: tự giác, giác tha và giác mãn. Ba giác viên mãn thì gọi là Phật-đà.” Cho nên ở Trung Quốc cũng không tìm được một chữ thích hợp để dịch, nếu có thể tìm được chữ thích hợp thì dùng chữ “giác” là được rồi, thế nhưng ý nghĩa của giác không giống với điều ở đây nói, cho nên bất đắc dĩ, lúc đó khi dịch kinh mới tạo ra một chữ. Quý vị phải biết, chữ Phật (佛) này là tạo ra khi dịch kinh, ở Trung Quốc vốn không có chữ này, không có chữ nào có chữ nhân (人) bên cạnh chữ phất (弗) như thế này, chỉ có chữ phất này, chữ phất này được được xem là từ phủ định. Bởi vì Phật-đà là người, cho nên thêm vào chữ “nhân”. Thế nên chữ này là tạo ra khi phiên dịch kinh Phật, khi dịch kinh Phật đã tạo ra không ít chữ. Chúng ta hiểu được nguồn gốc của chữ này.

Thế nào gọi là tự giác? Trong Đại thừa Trung Quốc chúng ta nói là đã khai ngộ. Khai ngộ có tiểu ngộ, có đại ngộ, có đại triệt đại ngộ, đây là có tiêu chuẩn. Tiêu chuẩn nghiêm ngặt là điều Phật đã nói trong kinh, tiểu ngộ là Chánh giác, đại ngộ là Chánh đẳng chánh giác, triệt ngộ là Vô thượng chánh đẳng chánh giác, tiêu chuẩn này thì cao. Chúng ta thông thường cả đời học Phật, ngay cả tiểu ngộ cũng không đạt được, đây là sự thật. Vì sao vậy? Đoạn được kiến tư phiền não thì đây mới là tiểu ngộ, việc này không phải việc dễ dàng. Trong kinh Hoa Nghiêm nói vọng tưởng phân biệt chấp trước, kiến tư phiền não là chấp trước, bạn còn có chấp trước không? Đứng đầu trong chấp trước là chấp ngã, trong chấp ngã thì nhất định có tham sân si, trong tông Pháp tướng nói, chấp trước là mạt-na thức, bốn phiền não lớn thường đi theo, thứ nhất là ngã, ba thứ phía sau là tham sân si. Ngã ái, bạn có thể không có sao? Ngã mạn, ngã si chắc chắn là có, sanh ra đã có đủ, cho nên trong Phật pháp gọi là phiền não vừa sanh ra đã có. Phật cũng gọi đó là ba độc phiền não, vì sao vậy? Hết thảy ý niệm bất thiện, hành vi bất thiện đều sinh ra từ ba cái rễ này.

Phật dạy chúng ta phải dùng ba phương pháp để đối trị nó, ba phương pháp này là gì? Giới định tuệ. Dùng giới để đối trị tham, chính là ngã ái, dùng giới luật để đối trị phiền não này; dùng định để đối trị ngã mạn, mạn là sân giận; dùng trí tuệ để đối trị ngã si. Bạn hãy xem, tất cả pháp mà Phật nói trong 49 năm đều không rời giới định tuệ, ngài để lại nhiều kinh điển như vậy, tổ sư đại đức phân loại chúng, chính là dùng giới định tuệ để phân loại. Nhưng mỗi lần Phật giảng kinh, giảng khai thị, bất luận thời gian dài hay ngắn, dù chỉ giảng một giờ, trong ấy đều bao hàm giới định tuệ. Phân loại kinh điển thì phân loại thế nào? Chính là xem trong ba điều này điều nào được giảng nhiều hơn thì xếp vào loại đó. Cho nên tam tạng của chúng ta gọi là kinh luật luận, kinh chính là định học, nói về định nhiều, nói về tam-muội nhiều; luật chính là luật tạng, đại khái là nói nhiều về phương diện quy củ; luận tạng là tuệ, giảng về tuệ, gọi là tam tạng kinh điển. Kinh và luận là để đối trị tư tưởng, kiến giải sai lầm của chúng ta, giới luật là đối với ngôn luận, hành vi của chúng ta, đây là tam học. Phiền não nặng thì bạn không có cách gì khai ngộ, không những không cách gì đại ngộ, mà tiểu ngộ cũng không có cách gì đạt được. Hạ tiêu chuẩn ngộ của Phật xuống đến mức thấp nhất, thấp nhất là Tu-đà-hoàn, Sơ quả của Tiểu thừa, Bồ-tát địa vị Sơ tín của Đại thừa, chúng ta đều không làm được.

/ 74