TỊNH ĐỘ ĐẠI KINH GIẢI DIỄN NGHĨA
Tập 73
Chủ giảng: Lão pháp sư Tịnh Không
Thời gian: Ngày 08 tháng 07 năm 2010
Địa điểm: Hiệp hội giáo dục Phật-đà Hồng Kông
Việt dịch: Ban biên dịch Pháp Âm Tuyên Lưu
Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin mời ngồi. Mời xem Đại Thừa Vô Lượng Thọ Kinh Giải, trang 68, bắt đầu xem từ hàng thứ 2.
Đoạn văn này, lão cư sĩ Hoàng nêu ra năm bản dịch gốc của kinh Vô Lượng Thọ, khác biệt ở trong năm bản này rất lớn, nói cách khác, năm xưa khi phiên dịch nhất định không phải là dùng cùng một bản gốc tiếng Phạn, nên mới xuất hiện tình hình như vậy. Căn cứ khảo chứng của các đại đức xưa, ít nhất có ba loại bản gốc tiếng Phạn khác nhau. Vì sao lại có ba loại? Đương nhiên có khả năng nhất, là khi Thích-ca Mâu-ni Phật còn tại thế đã giảng bộ kinh này ba lần, thậm chí hơn ba lần. Vì sao vậy? Bởi trong các bản dịch có bảy bản đã thất truyền. Cho nên bộ kinh này truyền sang Trung Quốc rất sớm, thời triều Hán đã có bản dịch của An Thế Cao, chúng ta biết được niên đại đó là rất sớm, thuở đầu đã truyền đến Trung Quốc. Cho đến Nam Tống là trải qua tám triều đại, cũng gần 800 năm, trong thời gian dài như vậy, tổng cộng phiên dịch 12 lần. Bản gốc tiếng Phạn từ Ấn Độ truyền qua không ngừng lưu thông ở Trung Quốc, mỗi lần truyền đến có thể khác với lần trước, cho nên đều được phiên dịch cả. Đây là hiện nay căn cứ vào năm bản hiện còn, phán đoán ít nhất có ba loại bản gốc. Ngoài ra còn bảy bản đã thất truyền thì không bàn tới, nếu có bảy bản này thì rất có thể còn phát hiện còn có những khác biệt nữa.
Thích-ca Mâu-ni Phật khi còn tại thế, cả đời giảng kinh dạy học, trong kinh điển ghi chép ngài 30 tuổi khai ngộ, người thông thường nói là thành đạo, thành đạo tức là khai ngộ. Khai ngộ là ngài bắt đầu dạy học mãi cho đến khi viên tịch, 79 tuổi diệt độ, giảng kinh hơn 300 hội, thuyết pháp 49 năm. Hội này là giống như chúng ta ngày nay mở lớp học, mỗi một hội là giảng một bài mục, bài mục này có lớn có nhỏ. Bài mục lớn có thể giảng vài năm, cũng có thể giảng một bộ kinh, như kinh Đại Bát-nhã, đó là bài mục lớn. Nhỏ thì một hai người đến thỉnh giáo Thế Tôn, nêu câu hỏi, ngài cũng giảng. Bài mục nhỏ có thể nói hai, ba giờ, đó cũng tính là một hội. Trong A-hàm chúng ta thấy có bộ kinh nhỏ, có những bộ nhỏ đại khái chỉ ba, bốn trăm chữ, đó cũng là một bộ kinh. Như Bát-nhã Tâm Kinh cũng là một bộ kinh, chỉ 260 chữ. Cho nên lớn nhỏ hợp lại có mấy nghìn bộ kinh. Những điều này, chúng ta đều biết là thời đó Thế Tôn giảng kinh dạy học không có giáo trình, không có chữ viết, ngay cả bản thảo cũng không có, đề cương cũng không có. Nguồn gốc kinh điển là sau khi Thích-ca Mâu-ni Phật diệt độ, các học trò nghĩ rằng giáo huấn này của thầy quá quý báu, nếu không truyền lại thì quá đáng tiếc. Cho nên từ trong trí nhớ, trong đây cũng có người truyền pháp, tôn giả A-nan truyền pháp, A-nan là người có sức ghi nhớ mạnh nhất trong hàng đệ tử, hầu như sau khi nghe một lần thì ngài có thể nhớ được hoàn toàn, mà sẽ không bao giờ quên. Thỉnh A-nan phúc giảng, thuật lại một lượt những gì mà Phật khi còn tại thế đã nói, 500 đồng học làm chứng, 500 vị A-la-hán nghe, nghe xong mọi người đều đồng ý, không sai, Phật đã nói như thế, vậy mới ghi chép vào. Nếu như có một người phản đối cũng không được, có người nói “câu này hình như Phật không nói như vậy”, thế thì câu này phải lược bỏ, nhằm giữ chữ tín với người đời sau. Cho nên kết tập kinh điển nghiêm ngặt như vậy, những gì lưu truyền lại, những giáo trình do Phật giảng dạy năm xưa là vô cùng trân quý.
Lưu lại những điều này, chúng ta đều biết là những gì đức Phật năm xưa dạy người, dạy người rõ lý, hiểu rõ đạo lý. Dạy người hiểu nhân quả, dạy người làm người thế nào, xử thế ra sao, đối người tiếp vật thế nào, ngài dạy người là những điều như vậy. Truyền đến ngày nay thì kinh điển này biến thành để tụng, nó không phải là để bạn tụng, nếu để tụng thì thì năm xưa Thích-ca Mâu-ni Phật đáng lẽ đã viết ra mấy bộ kinh để mọi người tụng, nhưng không có. Cho nên chúng ta nhất định phải hiểu rõ, thân phận của Thích-ca Mâu-ni Phật là gì, giống như Khổng tử của Trung Quốc, là thân phận người thầy, thầy giáo chuyên nghiệp. Vị thầy chuyên nghiệp này còn không thu học phí của người ta, chính là thầy giáo nghĩa vụ, làm thầy giáo nghĩa vụ chuyên nghiệp suốt 49 năm. Người theo học với ngài rất đông, về sau kết tập tạng kinh, cho nên giáo trình được lưu truyền lại phong phú như vậy. Truyền đến Trung Quốc thì không phải là hoàn chỉnh, bởi vì thời đó giao thông rất không thuận tiện, kinh điển là chép tay, viết trên lá cây bối-đa-la, rất cồng kềnh. Cho nên cao tăng Ấn Độ sang Trung Quốc, cao tăng Trung Quốc sang Ấn Độ thỉnh kinh, đều phải tuyển chọn kỹ lưỡng. Bản dịch Hán văn của chúng ta là từ trong kinh tiếng Phạn của Ấn Độ, chọn lấy phần tinh hoa nhất, hay nhất, đương nhiên cũng phù hợp với nhu cầu của người phương Đông chúng ta, không phải đem toàn bộ về. Hết sức đáng tiếc, những thứ này hiện nay đều thất truyền, hiện nay bản dịch còn bảo tồn hoàn chỉnh nhất vẫn là Hán văn, chữ Tây Tạng còn giữ được một phần, nhưng bản Hán văn được bảo tồn hoàn chỉnh nhất. Cho nên chúng ta phải biết, những điều này là giáo học năm xưa của Thế Tôn. Chúng ta học Phật là tiếp nhận giáo dục của Phật-đà, điều này phải hiểu, không liên quan gì đến tôn giáo, Thích-ca Mâu-ni Phật không phải thần, cũng không phải tiên, ngài là người. Phật nghĩa là gì, bạn phải hiểu cho rõ, người Ấn Độ gọi là Phật-đà, người Trung Quốc gọi là thánh nhân, Phật và thánh có ý nghĩa tương đồng. Định nghĩa “thánh” của Trung Quốc, thánh là thấu tỏ chân tướng sự thật, nói cách khác, thánh nhân là người sáng tỏ, còn phàm phu chúng ta là kẻ hồ đồ, thánh nhân là người sáng tỏ. “Phật” nghĩa là giác ngộ, giác ngộ chẳng phải là sáng tỏ hay sao? Cho nên người Ấn Độ gọi Phật-đà cùng với người Trung Quốc gọi thánh nhân, ý nghĩa có thể nói là hết sức gần nhau. Cho nên ngài không phải thần, cũng không phải tiên.