TỊNH ĐỘ ĐẠI KINH GIẢI DIỄN NGHĨA
Tập 107
Chủ giảng: Lão pháp sư Tịnh Không
Thời gian: Ngày 10 tháng 08 năm 2010
Địa điểm: Giảng đường Hoa Nghiêm Malaysia
Việt dịch: Ban biên dịch Pháp Âm Tuyên Lưu
Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, mời ngồi. Mời xem Đại Thừa Vô Lượng Thọ Kinh Giải, trang 127 bắt đầu xem hàng thứ 6 từ dưới lên, bắt đầu xem từ “phá thành phiền não”.
“Phá thành phiền não (thấy trong bản Đường dịch). Phiền não là tham sân si v.v., phiền tâm não thân nên gọi là phiền não.” Đây là trước hết làm một giới thiệu đơn giản cho danh từ phiền não này. Tại sao lại gọi nó là phiền não? Vì nó làm cho tâm bạn phiền, làm cho thân bạn não, cho nên mới gọi là phiền não. Tham sân si là rễ trong phiền não, vô lượng vô biên phiền não đều là sanh ra từ đây, ba cái rễ này trong Phật pháp còn gọi chúng là tam độc phiền não, thật sự là sanh ra đã có. Tiếp theo nói, “lại có tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới thủ”, tổng cộng gọi là mười loại phiền não, mười loại phiền não này cũng gọi là kiến tư phiền não. “Thiên Thai tông lấy tam hoặc kiến tư, trần sa, vô minh mà gọi là tam phiền não.” Đây là đem phiền não quy nạp lại thành ba loại lớn, thứ nhất là kiến tư, kiến tư chính là mười loại phiền não đã nói ở phía trước, mười loại phiền não này chính là kiến tư phiền não, trần sa và vô minh, đây cũng là những thứ mà chúng ta thường hay đề cập đến. Tham là tham ái, sân là sân giận, ngu si, ngạo mạn, hoài nghi. Hoài nghi ở đây không phải là hoài nghi bình thường, mà là hoài nghi đối với Phật pháp, hoài nghi đối với thánh giáo, hoài nghi đối với giáo huấn của thánh nhân, đó là phiền não nghiêm trọng.
Trong kinh Đại thừa, Phật nói cho chúng ta biết, nói về nguồn gốc của vũ trụ, đây là vấn đề căn bản trong Phật pháp cùng với triết học và khoa học, mãi cho đến nay khoa học và triết học vẫn chưa thể làm cho nó rõ ràng, làm cho sáng tỏ. Trong vài năm gần đây nhờ sự xuất hiện của cơ học lượng tử, đưa ra cách giải thích mới đối với sự việc này. Họ phát hiện ra cách giải thích mới, cách giải thích mới này hết sức gần với những gì được nói ở trong kinh Phật. Trong Phật pháp nói, trong kinh Đại thừa thường nói “một niệm bất giác mà có vô minh”, từ vô minh liền biến hiện ra a-lại-da, chân tâm là tự tánh, tự tánh chính là chân tâm, a-lại-da là vọng tâm. Vọng từ đâu mà có? Dĩ nhiên là không rời khỏi chân rồi, rời khỏi chân thì làm gì có hư vọng? Giống như việc con người chúng ta đứng dưới ánh mặt trời sẽ có một cái bóng, cái bóng đó là hư vọng, cái bóng từ đâu mà có? Từ thân người mà có; nếu như không có thân người, vậy lấy đâu ra cái bóng? Chúng ta đem thân người ví dụ cho tự tánh, cái bóng chính là a-lại-da. Tự tánh không phải là vật chất cũng không phải là tinh thần, nó không là thứ gì cả, trong Tịnh tông gọi là Thường tịch quang. Đồng tu Tịnh tông đều biết, thế giới Tây Phương Cực Lạc có bốn cõi ba bậc chín phẩm, bốn cõi này là cõi Thường tịch quang Tịnh, cõi Thật báo trang nghiêm, cõi Phương tiện hữu dư và cõi Phàm thánh đồng cư. Cõi Phàm thánh đồng cư thì tương đương với lục đạo luân hồi của nơi này chúng ta, chính là cõi Phàm thánh đồng cư; cõi Phương tiện hữu dư thì tương đương với pháp giới tứ thánh của bên này chúng ta, Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, Phật, cõi Thật báo thì tương đồng, Thường tịch quang cũng là tương đồng. Thường tịch quang là bản thể, không chỗ nào không tồn tại, không lúc nào không tồn tại, nó là lý thể của muôn sự muôn vật trong vũ trụ.
Vọng tâm xuất hiện rồi, a-lại-da xuất hiện rồi, a-lại-da có ba loại tính chất, trong Phật pháp gọi là ba tướng tế, hết sức vi tế, rất không dễ gì nhìn thấy được. Trong giáo pháp Đại thừa nói rằng Bồ-tát Bát địa mới nhìn thấy được, đây là đang nói về công phu định lực, phải đạt đến độ sâu như của Bát địa, đại định thâm sâu liền thấy được. Từ Bát địa hướng lên có Cửu địa, Thập địa, Đẳng giác, Diệu giác, cho nên Bồ-tát, bao gồm cả Phật, trong 42 giai vị thì năm giai vị cao nhất này họ có thể nhìn thấy được, dĩ nhiên chẳng phải là giả. Một người nhìn thấy, vậy không nhất định là thật, chỉ cần chứng đắc từ Bát địa trở lên thì bạn đều nhìn thấy được, đây chẳng phải là giả. Cho nên cảnh giới hiện lượng ở trong thiền định, ba tính chất của nó là gì? Nó bao gồm, dùng danh từ hiện nay mà nói, nó có năng lượng, có hiện tượng vật chất và có hiện tượng thông tin, thông tin chính là hiện tượng tinh thần, thông thường chúng ta gọi tinh thần là thọ tưởng hành thức, nó có những hiện tượng này. Những hiện tượng này từ đâu mà có? Thảy đều là trong tự tánh vốn tự đầy đủ, trong tự tánh sẵn có, chẳng qua là mê mất, tự tánh mê rồi thì gọi là a-lại-da, a-lại-da sẽ làm biến chất hiện tượng này. Trong tự tánh có trí tuệ, có đức năng, có tướng hảo, hễ mê thì thảy đều biến đổi, trí tuệ biến thành phiền não, trong đây chúng ta gọi là kiến tư phiền não, nhà Thiên Thai nói về phạm vi này rất rộng, kiến tư, trần sa, vô minh toàn bộ là trí tuệ bát-nhã vốn đầy đủ trong tự tánh bị biến chất, biến thành những thứ này. Đức năng biến thành tạo nghiệp, khởi tâm động niệm làm ra tất cả thiện ác nhiễm tịnh, nguồn gốc của chúng là đức năng trong tự tánh; sáu đường, mười pháp giới vốn dĩ là tướng hảo trong tự tánh, tất cả đều bị biến chất, cho nên Phật thường nói trong kinh là “hết thảy pháp từ tâm tưởng sanh”. Phật lại thường nói cho chúng ta biết, điều này nói trong kinh Hoa Nghiêm, vũ trụ và vạn pháp từ đâu mà có? “Chỉ do tâm hiện, chỉ do thức biến”, có thể hiện, có thể sanh là tâm của chúng ta, nó có thể biến, tạo ra vô lượng vô biên những biến hóa, đây là do thức của chúng ta khởi lên tác dụng. Thức là gì? Phân biệt chấp trước, phân biệt chấp trước thì nó liền nảy sanh biến hóa. Nếu không có phân biệt chấp trước, nó hiện tướng, không nảy sanh biến hóa. Cho nên cõi Thật báo trang nghiêm là do tâm hiện, trong ấy sẽ không biến đổi, bởi vì nó không có phân biệt chấp trước.