/ 51
1

PHẬT THUYẾT ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ

TRANG NGHIÊM, THANH TỊNH, BÌNH ĐẲNG, GIÁC KINH

Phúc giảng lần thứ ba: Cô Lưu Tố Vân

Thời gian: 01/05/2024

Địa điểm: Tiểu viện Lục Hòa

Việt dịch: Ban biên dịch Pháp Âm Tuyên Lưu

Tập 49


Chư vị đồng tu tôn kính, chào mọi người. A-di-đà Phật! Hôm nay, tôi giảng tiếp phần nội dung đã giảng trước đó.

“Vô ngã”, thứ có cái thể thường hằng nhất định, lại có tác dụng chủ tể, thì gọi là ngã. Chấp chặt vào cái tồn tại trong thân người thì gọi là nhân ngã. Nếu với các pháp, chấp là có thì gọi là pháp ngã. Thân người chỉ là sự hòa hợp giả tạm của ngũ uẩn, không có thực thể thường hằng nhất định, cho nên không có nhân ngã. Các pháp tóm lại đều do duyên mà sanh, cũng không có thực thể thường hằng nhất định, cho nên cũng không có pháp ngã. Chỉ Quán nói: bởi vì không có trí tuệ nên mới cho rằng có ngã, nếu dùng trí tuệ để quán chiếu thì thật sự không có ngã. Nếu nói có ngã thì ngã ở đâu? Từ đầu đến chân, các chi các đốt, tìm xét hết thảy nhưng không tìm ra ngã. Có thể thấy, lấy đâu ra chúng sanh!

Lại nữa, trong Nguyên Nhân Luận nói: sắc thân do hình tướng nhục thể hiện ra, cùng với vọng tâm có thể suy tư ngẫm nghĩ, từ vô thỉ đến nay do nhờ sức nhân duyên, một niệm tiếp nối một niệm, tức là vừa sanh liền diệt, niệm sau sanh thì niệm trước diệt. Ý niệm tiếp nối nhau, chính là sanh diệt tiếp nối nhau, không có dừng lại. Giống như lớp lớp sóng xô, sóng sau xô sóng trước. Lại như ánh lửa của cây nến, tia trước vừa tắt thì tia sau đã lóe lên, từng tia nối tiếp nhau, sanh diệt không ngừng. Thân tâm của con người tương tự với điều này, do nhân duyên, thân tâm giả hợp, dường như là một, lại dường như là thường. Kỳ thực chỉ là tương tợ tương tục, nó đã không phải là một, lại càng không phải là thường, song kẻ phàm ngu, thiếu trí tuệ, nhận cho đó là ngã, xem trọng cái ngã này, nên khởi phát vô lượng tam độc tham sân si, tạo tác hết thảy nghiệp.

7. “Tiếng đại từ đại bi hỷ xả.” Từ bi hỷ xả là tứ vô lượng tâm:

Một, từ là ban vui cho chúng sanh;

Hai, bi là nhổ bỏ nỗi khổ của chúng sanh;

Ba, hỷ là thấy người khác lìa khổ được vui, bản thân sanh tâm hoan hỷ;

Bốn, xả là nội tâm bình đẳng, không có chấp trước. Đối với tất cả chúng sanh, xả bỏ các phân biệt về oán thân v.v., xả bỏ hết thảy lỗi lầm về tham sân si.

Vì thế, chúng sanh tu tập tứ vô lượng tâm này, đạt được vô lượng phước và quả.

8. “Tiếng cam lộ quán đảnh thọ vị.” Cam lộ vốn là thuốc bất tử của thiên nhân, uống rồi có thể kéo dài thọ mạng, vị ngọt như mật. Trong Bí Tạng Ký Sao của Mật điển nói: dùng nước pháp quán đảnh cho đệ tử thì gọi là cam lộ quán đảnh. Trong Đại Nhật Kinh Sớ nói: Như Lai là đấng pháp vương, vì muốn cho hạt giống Phật không bị đứt đoạn, nên dùng nước pháp cam lộ quán đảnh cho đệ tử. Từ đó về sau, tất cả thánh chúng đối với người được thọ quán đảnh đều rất kính ngưỡng, biết người này nhất định không thoái chuyển nơi vô thượng bồ-đề, nhất định kế thừa địa vị pháp vương.

Mời xem kinh văn tiếp theo:

Được nghe các thứ âm thanh như vậy rồi, tâm họ thanh tịnh, không còn phân biệt, chánh trực bình đẳng, thành thục thiện căn, điều gì nghe thấy cũng đều tương ưng với pháp. Ý muốn nghe pháp nào, chỉ có pháp đó phát ra; nếu không muốn nghe, thì hoàn toàn không nghe thấy nữa. Vĩnh viễn không thoái tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Trước hết, chúng ta xem năm câu kinh văn đầu:

“Được nghe các thứ âm thanh như vậy xong, tâm họ thanh tịnh, không còn phân biệt, chánh trực bình đẳng, thành thục thiện căn.”

Đoạn kinh văn này nêu rõ chúng sanh Cực Lạc nghe được tiếng nước thuyết pháp, nhận được lợi ích từ pháp. Người vãng sanh nghe đến các loại âm thanh diệu pháp trên, trong tâm mọi người thanh tịnh, lìa khỏi cấu uế và tạp nhiễm, cũng lìa hết thảy phân biệt, đối đãi, vào pháp môn không hai, khế hợp trung đạo, cho nên gọi là “chánh trực bình đẳng”. Không hai, không khác biệt chính là bình đẳng, trung đạo chính là tự nhiên chánh trực. Không tà thì gọi là chánh, không có bất kỳ tà tư tà kiến nào. Không cong vạy gọi là trực, “trực tâm là đạo tràng”.

Trong Thiền tông đề xướng “trực khởi trực dụng”, thời Đường có một bà lão ở Đài Sơn, người ta hỏi: “Đường lên Đài Sơn đi thế nào?” Bà chỉ trả lời: “Cứ đi thẳng!” Ba chữ này cực kỳ bình thường, song rất đặc biệt, vô biên diệu nghĩa và đạo lý sâu xa đều nằm trong đó.

/ 51