/ 45
24

PHẬT THUYẾT ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ

TRANG NGHIÊM, THANH TỊNH, BÌNH ĐẲNG, GIÁC KINH

Phúc giảng lần thứ ba: Cô Lưu Tố Vân

Thời gian: 28/04/2024

Địa điểm: Tiểu viện Lục Hòa

Việt dịch: Ban biên dịch Pháp Âm Tuyên Lưu

Tập 44


Chư vị đồng tu tôn kính, chào mọi người. A-di-đà Phật!

10. An Ẩn Quang

“An Ẩn Quang” tức là An Ổn Quang, thấy trong bản dịch thời Tống.

“An Ẩn” chính là thân an tâm ổn. Năm trược tám khổ không thể não loạn, gọi là “an”; núi sập đất lún không lay động được, gọi là “ổn”. Trong bản dịch thời Nguỵ gọi là “Diễm Vương Quang”, trong bài kệ của đại sư Đàm Loan gọi là “Quang Diễm Vương”, trong bản dịch thời Đường gọi là “Quang Chiếu Vương”. Bài kệ của đại sư Đàm Loan nói: “Phật quang chiếu diệu tột bậc nhất, nên Phật có hiệu Quang Diễm Vương, ba cõi tăm tối nhờ quang chiếu, cho nên đảnh lễ đấng Đại Ứng Cúng”. Trong hai bản dịch thời Nguỵ và Đường cùng lời tán thán của đại sư Đàm Loan, danh hiệu của quang minh này đều có chữ “vương”. Trong lời tán thán của đại sư lại nói “Phật quang chiếu diệu tột bậc nhất”, chính là hiển thị quang minh của Di-đà là quang minh tôn quý nhất, chính là vua trong các quang minh. Nguyên nhân gọi là “vương” chủ yếu là vì chúng sanh ba đường ác khó cứu độ nhất, trong đường ác cực kỳ khổ sở nhất, nhờ quang minh khai sáng, lìa khổ được vui, thành tựu bồ-đề. Đây là đại nguyện độ sanh của chư Phật mười phương đã đạt đến đỉnh cao nhất.

Để hiển thị đức của quang minh này, bản dịch thời Tống dùng “An Ổn” làm tên. Chúng sanh thoát ly ba đường ác, vãng sanh Cực Lạc, không có các khổ, chỉ hưởng các điều vui, cho nên là “an”, ở cõi nước ấy thọ mạng vô lượng, chứng bất thoái chuyển, hết thảy ngoại duyên đều là tăng thượng duyên, chắc chắn giải thoát, nhờ quanh minh mà thành Phật. Vạn người tu vạn người đi, vạn người đi vạn người chứng, cực an cực ổn. Đủ để chứng minh cho bi tâm, nguyện lực, trí tuệ, phương tiện của đức Di-đà viên mãn rốt ráo, vượt trỗi hết thảy, quang minh tôn quý nhất, vua trong các Phật.

Trong Tông Kính Lục nói: an ẩn vui vẻ tức là tịch tĩnh diệu thường. Đã tịch tĩnh lại còn diệu thường, là tịch mà thường chiếu; đã diệu thường lại còn tịch tĩnh, là chiếu mà thường tịch. Có thể thấy, an ổn quang chính là thường tịch quang. Cho nên các bản dịch thời Nguỵ và Đường, trong danh hiệu của quang minh đều có chữ “vương”. Thường tịch quang là diệu đức của pháp thân Di-đà, vì thế có thể khiến chúng sanh trong ba đường ác nhờ quang minh mà lìa khổ, chúng sanh hướng về đạo nhờ quang minh mà thành Phật.

11. Siêu Nhật Nguyệt Quang

Bài kệ của đại sư Đàm Loan nói: “Quang minh chiếu diệu hơn nhật nguyệt, nên Phật có hiệu là Siêu Nhật Nguyệt Quang. Phật Thích-ca khen còn không ngớt, nên con đảnh lễ đấng Vô Đẳng Đẳng”.

Trong kinh Siêu Nhật Minh Tam-muội nói, quang minh của mặt trời có thể chiếu đến tất cả hữu hình, khiến vạn vật trong trời đất sanh trưởng, nhưng không thể chiếu đến thứ vô hình, không thể soi tỏ bản tâm của con người. Mặt trời lên, xua tan tăm tối, do vậy thấy được mọi vật, thế nhưng tâm của chính mình là gì? Chính mình không biết. Về phương diện này, mặt trời không hữu dụng. Tam-muội siêu nhật minh có thể chiếu khắp mười phương, hết thảy đều không chướng ngại được. Đối với Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới và chúng hữu tình trong sáu cõi, đều có thể chiếu trọn hết, khiến họ sáng tỏ bổn tâm. Tam-muội siêu nhật minh còn như vậy, huống hồ quang minh của Di-đà vượt hơn hết thảy, đầy đủ tất cả tam-muội, cho nên quang minh của Phật còn có hiệu là Siêu Nhật Nguyệt Quang.

12. Bất Tư Nghị Quang

Thấy trong hai bản dịch thời Đường và Tống. Bản dịch thời Nguỵ là Nan Tư Quang.

Kệ của đại sư Đàm Loan nói: “Quang này ngoài Phật chẳng thể lường, nên Phật lại hiệu Nan Tư Quang. Chư Phật mười phương khen vãng sanh, xứng với công đức nên đảnh lễ.”

Trong bài kệ chỉ ra: quang minh không thể nghĩ bàn của Phật, ngoài chư Phật ra, đại Bồ-tát cũng không thể đo lường. Vì thế kinh này nói: “Chẳng thể dùng lời lẽ và phân biệt mà có thể hiểu được”, chính là không thể nghĩ, không thể bàn. Ví như cõi Thật báo trang nghiêm tha thọ dụng của Phật, kiến giải của Bồ-tát ở mỗi địa cũng không như nhau, thứ hiện ra cũng không giống nhau. Còn về cõi Thật báo tự thọ dụng của Phật, thì hết thảy Bồ-tát cũng đều không thể biết. Bởi vì quang minh này ngoài Phật ra, hết thảy đại Bồ-tát không ai có thể đo lường, không cách nào suy nghĩ, chẳng thể tuyên nói, cho nên gọi là Nan Tư Quang. Trong bản dịch thời Đường và Tống là “Bất Tư Nghị Quang”, không thể nghĩ bàn chính là bất khả tư nghị. Tên của kinh A-di-đà chính là kinh Xưng Tán Công Đức Không Thể Nghĩ Bàn Được Hết Thảy Chư Phật Hộ Niệm.

/ 45