20

Kính thưa Thầy và các Thầy Cô!

Chúng con xin phép chia sẻ một số nội dung chính mà chúng con ghi chép trong bài Thầy Vọng Tây giảng từ 4h50’ đến 6h00’, sáng thứ Ba, ngày 13/01/2026.

****************************

PHẬT HỌC THƯỜNG THỨC

Bài 309: Công dụng của tụng Kinh niệm Phật

Hằng ngày chúng ta tụng Kinh niệm Phật là để tu tập định tâm; mặt khác, năng lực của Kinh điển có thể giúp người trì tụng sản sinh ra phước báu. Do đó, hằng ngày, chúng ta nên tranh thủ thời gian để chuyên tâm tụng niệm. Trong Kinh Phật có dạy rằng niệm một câu “A Di Đà Phật” chính là vô lượng trí tuệ. Các bậc Tổ sư Đại đức từng khẳng định một câu Phật hiệu nơi Tịnh Độ tông có thể giúp chúng ta thành tựu được Vô Thượng Bồ Đề. Chúng ta là hàng hậu học, điều trước nhất cần làm chính là phải sanh khởi được tín tâm đối với những lời dạy của người xưa.

Tôi tin Hòa Thượng Tịnh Không – người mà cả đời hy sinh phụng hiến, làm mọi việc chí công vô tư vì lợi ích cộng đồng và xã hội - nên tôi càng tin sâu, nguyện thiết đối với pháp môn Tịnh Độ. Chúng ta không tin lời Phật dạy, không tin lời giáo huấn của các bậc tu hành, vậy thì chúng ta còn biết tin ai đây? Tập khí của chúng sanh chúng ta, theo như Hòa Thượng nói, chính là “tự cho mình biết, tự cho mình đúng”, thậm chí còn tự cho mình hơn cả Tổ sư Đại đức, hơn cả Phật Bồ Tát. Đây mới thực là điều đáng sợ! Trong nhà Phật gọi họ là hạng người cống cao ngã mạn. Chỉ có bản thân họ mới tự giải cứu được cho chính mình khi biết tỉnh ngộ, sám hối và quay đầu, chứ không ai có thể giúp được họ.

Hòa Thượng nói: “Một câu A Di Đà Phật ở nơi Tịnh Độ Tông có thể thành tựu Vô Thượng Bồ Đề, do đây có thể thấy pháp môn niệm Phật thù thắng đến như vậy, quan trọng thiết yếu đến như vậy mà chúng ta còn có thể nghi ngờ hay sao?” Hòa Thượng đã khẳng định điều này thì nếu chúng ta tin Hòa Thượng, chúng ta cứ miệt mài hành trì. Hòa Thượng Hải Hiền với 92 năm niệm Phật tự tại vãng sanh lưu lại toàn thân xá lợi. Lúc sanh tiền, Ngài rất kính trọng và tán thán Hòa Thượng Tịnh Không và ngược lại, Hòa Thượng Tịnh Không cũng tán thán và kính trọng Ngài. Nếu Hòa Thượng Hải Hiền là pháp thân Bồ Tát thì Hòa Thượng Tịnh Không cũng là một vị pháp thân Bồ Tát.

Chúng ta nghe tên các bậc Tổ sư Đại đức thuở trước, có thể chúng ta không biết rõ, nhưng Hòa Thượng Hải Hiền và Hòa Thượng Tịnh Không là những người hiện hữu ngay trong thời đại này của chúng ta. Chính mắt chúng ta đã thấy sự hy sinh phụng hiến và công phu tu hành suốt cả cuộc đời của các Ngài. Hòa Thượng Hải Hiền một mặt niệm Phật, một mặt lao tác làm việc. Còn Hòa Thượng Tịnh Không thì vừa niệm Phật, vừa miệt mài giảng Kinh nói pháp. Mỗi vị đều có một pháp hành riêng biệt. Chư Phật mười phương cũng đều như vậy; dù là Phật Dược Sư, Phật Thích Ca Mâu Ni hay “A Di Đà Phật”, các Ngài đều có pháp hành riêng của mình.

Tập khí xấu ác của chúng sanh ngày nay chính là không tin tưởng vào mọi người. Dù từ nhỏ đã được sự bao bọc của Cha Mẹ trong gia đình, nhưng đến khi lớn lên, họ cũng chẳng tin tưởng Cha Mẹ mình. Cha Mẹ là người sanh thành và nuôi dưỡng mà còn không tin, vậy thì họ còn biết tin ai? Từ thuở ấu thơ đến lúc trưởng thành, qua các cấp học đều nhờ sự dạy dỗ của Thầy cô, nhưng họ cũng chẳng tin. Rồi đến cả các bậc Tổ sư Đại đức tu hành nghiêm túc, họ cũng không tin. Những người quan trọng nhất đối với cuộc đời mình như thế mà họ còn không tin, thì mong cầu gì họ tin vào những việc làm nghĩa khí đối với quốc gia, đối với dân tộc. Đây thực sự là những người rất nguy hiểm..

Có một lần, có một người học trò đang du học ở Anh hỏi tôi: “Bây giờ con học xong rồi, con có về nước không thầy?” Tôi trả lời: “Con nghĩ sao vậy? Cha mẹ nuôi dưỡng, Thầy cô dạy bảo, quốc gia tài bồi vậy khi mình thành đạt rồi, mình phải quay về phụng sự quốc gia chứ!”. Từ khi tôi khuyên đến nay thì người học trò này không liên lạc với tôi nữa. Tuy nhiên, sau này cho dù ở đỉnh cao danh vọng, đến cuối đời sẽ có sự hối tiếc!

Văn hóa của người Việt chúng ta vốn trọng đạo lý “lá rụng về cội”; ai cũng khao khát được trở về quê hương - nơi chôn rau cắt rốn, chẳng ai muốn mãi kiếp sống tha phương. “Quê hương là chùm khế ngọt, cho con trèo hái mỗi ngày”, bởi ở đó có Cha Mẹ, có Thầy cô và tình làng nghĩa xóm. Người mà không có ý niệm đó chứng tỏ họ đã đánh mất niềm tin ngay từ thuở nhỏ. Họ mất niềm tin từ tận gốc rễ căn bản. Trong gia đình, họ không tin Cha mẹ; nơi trường học, họ không tin Thầy cô; thậm chí đến cả người truyền đạo cho mình, họ cũng chẳng đặt niềm tin. Bản thân tôi lớn lên, nhờ nhìn thấy Bà nội và Ông bà ngoại ăn chay niệm Phật mà tôi cũng làm theo. Sau này trưởng thành, lại thấy các bậc Thầy cũng hành trì như thế, nên niềm tin trong tôi được xây dựng và gia cố một cách vững chắc.