1

Những Lời Khai Thị Trí Huệ Trong Kinh Kim Cang

Chủ Đề 721: Tất Cả Hiền Thánh, Đều Do Pháp Vô Vi Mà Có Sự Sai Biệt

Chủ giảng: Pháp sư Tịnh Không

Thời gian: Tháng 05 năm 1995

Địa điểm: Cư Sĩ Lâm Phật Giáo Singapore

Trích lục từ: Báo cáo nghiên cứu Kim Cang Bát Nhã (Tập 061)

Chuyển ngữ: Tịch Minh

— ❖ —

【Lý - sự, tánh - tu, nhân - quả, thảy đều không sót. Cho nên một câu này, không những bao quát không sót đạo lý mà bộ kinh này đã nói, đồng thời còn tổng quát không sót Phật pháp của cả Đại thừa và Tiểu thừa. Cho nên nói: Tất cả Hiền Thánh, đều do pháp Vô vi mà có sự sai biệt.】

Ý nghĩa này hiển thị đặc biệt rõ ràng ở trong bộ kinh này. Từ quả Tu Đà Hoàn của Tiểu thừa, các ngài đoạn phiền não, chứng được quả vị Tu Đà Hoàn, nhưng thái độ của các ngài giống như không có chuyện gì xảy ra, không hề để việc ấy ở trong tâm, đây chính là hiển thị ra sự “vô thật vô hư” (không thật không hư). Do đó, từ chỗ này chúng ta có thể thể hội được rất rõ ràng sự khác biệt giữa phàm và thánh. Phàm phu có rất nhiều thứ định công cao minh hơn hẳn những bậc thánh Tiểu thừa này. Định công của họ tuy không sánh bằng A La Hán, nhưng nếu so với Sơ quả, Nhị quả, Tam quả thì lại dư dả có thừa (*).

Người ở cõi trời Tứ Thiền, người ở cõi trời Tứ Không, hay như những người tu Tứ thiền Bát định của thế gian. Chư vị phải biết, bậc thánh chứng đến Tam quả, các ngài mới ở cõi trời Tứ thiền; thiền định mà người cõi trời Tứ không tu còn cao minh hơn các ngài. Vì sao chư Thiên cõi trời Tứ Thiền và Tứ Không không được gọi là bậc Thánh, trong khi bậc Sơ quả Tiểu thừa lại được gọi là thánh nhân? Sự khác biệt nằm ở chỗ nào? Chính là ở chỗ dụng tâm không giống nhau.

Sơ quả Tiểu thừa đã là “vô thật vô hư”, còn người cõi trời Tứ thiền, cõi trời Tứ không thì vẫn là “có thật có hư”, không giống nhau chính là ở chỗ này. Định công dẫu có sâu hơn nữa, nếu như không xả bỏ hai bên hư và thật thì cũng chẳng có ích gì. Thế nên sau khi định công vừa mất đi, thì vẫn phải đọa lạc, vẫn phải luân hồi. Định công của bậc Sơ quả Tiểu thừa đó không hề sâu lắm, rất có giới hạn. Nhưng người ta đã là “vô thật vô hư” trên mặt quan niệm rồi, cho nên các ngài qua lại bảy lần giữa cõi trời và cõi người là chứng A La Hán, liền ra khỏi tam giới.

Nếu như gặp được pháp môn Niệm Phật, vừa gặp được thì các ngài nhất định vãng sanh. Tại vì sao nhất định vãng sanh? Bởi vì các ngài dùng thái độ “vô thật vô hư” này để niệm Phật cầu vãng sanh, thì làm gì có đạo lý không vãng sanh chứ? Hơn nữa phẩm vị vãng sanh lại còn rất cao. Chúng ta muốn trong một đời này nhất định nắm chắc phần thoát khỏi lục đạo luân hồi, vãng sanh bất thoái thành Phật, thì điều này rất khẩn yếu, quá sức khẩn yếu rồi! Nếu như ý nghĩa của câu nói này bạn chưa hiểu rõ lắm, thì bạn cứ thường nghĩ đến “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh” (Tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bọt bóng), như vậy là được rồi; hoặc là trên “Kinh Kim Cang” còn có hai câu đơn giản hơn là “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng” (Phàm những gì có tướng, đều là hư vọng), cũng được, đều tương ưng với ý này.

Ở phần cuối của bộ kinh này, Thế Tôn đặc biệt dạy cho Tôn giả Tu Bồ Đề, dạy cho ngài cũng chính là dạy cho chúng ta: “Bất thủ ư tướng, như như bất động” (Không chấp vào tướng, như như bất động), hoàn toàn là làm ở ngay trên sự. Không chấp vào tướng, chính là “Ưng vô sở trụ”; như như bất động, là nói trong cảnh giới sáu trần, mỗi ngày chúng ta tiếp xúc với cảnh giới sáu trần, không thể rời khỏi sáu trần để sinh sống, tiếp xúc thì không sao, nhưng không được động tâm, động tâm là sai rồi. Động tâm gì? Thuận cảnh thì khởi tâm tham ái, nghịch cảnh thì khởi tâm sân hận, khởi cái tâm này thì thật là nguy hại! Phải như như bất động. Động, nói theo ngôn ngữ Trung Quốc, chính là thất tình: hỷ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục; bạn động tình, động thất tình, những tình thức này tuyệt đối không được khởi lên.

Nói cách khác, không động thì tâm thanh tịnh, tâm không động là bình đẳng, tâm không động là giác mà không mê, hoàn toàn tương ưng với tựa đề “Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác” của “Kinh Vô Lượng Thọ”, đó chính là tu thanh tịnh bình đẳng giác. Tu thanh tịnh bình đẳng giác, chính là tu Di Đà Tịnh độ . Trên “Kinh Vô Lượng Thọ”, Thế Tôn nói với chúng ta, A Di Đà Phật còn có một biệt hiệu gọi là “Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác”, Thanh tịnh bình đẳng giác chính là biệt hiệu của A Di Đà Phật. Chúng ta có thể thường xuyên nghĩ nhớ đến hai câu này trên “Kinh Kim Cang” và thực hành cho bằng được: “Bất thủ ư tướng, như như bất động”, đó chính là đang tu thanh tịnh bình đẳng giác. Phát nguyện vãng sanh, đương nhiên sẽ được vãng sanh. “Vô thật vô hư”, đã bao hàm trọn hết thảy tất cả Phật pháp Đại thừa và Tiểu thừa rồi.