Những Lời Khai Thị Trí Huệ Trong Kinh Kim Cang
Chủ Đề 654: Ly Tướng Chính Là Bát Nhã
Chủ giảng: Pháp sư Tịnh Không
Thời gian: Tháng 05 năm 1995
Địa điểm: Cư Sĩ Lâm Phật Giáo Singapore
Trích lục từ: Báo cáo nghiên cứu Kim Cang Bát Nhã (Tập 056)
Chuyển ngữ: Tịch Minh
— ❖ —
【Nếu chúng ta cùng tu cả việc ly tướng và niệm Phật, ly tướng chính là Bát Nhã, lại ngưỡng mong năng lực hộ niệm của Bổn Sư, của Tiếp Dẫn Đạo Sư và chư Phật mười phương, thì tựa như một người đẩy đi, một người kéo lại, gió xuôi căng buồm, lẽ nào lại không mau chóng lên đến bờ giác (đăng bỉ ngạn) ư?】
Đoạn văn này mang đến cho chúng ta sự khích lệ rất lớn. “Chúng ta” chính là những người như chúng ta đây, nếu thực sự có thể tu kết hợp giữa ly tướng và niệm Phật, thì đó chính là cùng tu Bát Nhã và Tịnh Độ. Cư sĩ Giang Vị Nông chính là dùng phương pháp này. Bát Nhã là gì? Không phải là bảo quý vị ngày ngày tụng Kinh Đại Bát Nhã, cũng chẳng phải bảo quý vị ngày ngày đến lạy Kinh Kim Cang, không phải vậy, mà là ly tướng! Đối với tất cả các pháp thế gian và xuất thế gian đều không chấp trước, đều buông xuống, đây chính là Bát Nhã. Thân tâm thế giới thảy đều buông xuống, không còn để những sự việc này vướng bận trong lòng nữa, đây gọi là Bát Nhã. Sau đó một lòng chuyên niệm A Di Đà Phật, cầu sanh Tịnh Độ, người này mới đích thực là cùng tu Bát Nhã và Tịnh Độ.
Trước đây, trong tác phẩm Niệm Phật Luận của Lão pháp sư Đàm Hư, chúng ta đã từng thấy ngài kể cho chúng ta nghe ba câu chuyện vãng sanh. Vị thứ nhất là một người xuất gia, thầy Tu Vô. Thầy vãng sanh tại chùa Cực Lạc ở Cáp Nhĩ Tân. Thầy Tu Vô lúc còn sống chưa từng đi học, không biết chữ. Trước khi xuất gia, thầy làm thợ xây, làm công việc nặng nhọc, làm thợ hồ nên cuộc sống vô cùng thanh khổ. Sau này xuất gia, nghe nói niệm A Di Đà Phật rất tốt, nên thầy chuyên niệm A Di Đà Phật. Hễ gặp ai là thầy khuyên người đó niệm A Di Đà Phật, ngoại trừ phương pháp này ra, thầy chẳng biết làm gì khác. Lúc bấy giờ, Lão pháp sư Đàm Hư đang làm Trụ trì chùa Cực Lạc, Pháp sư Định Tây làm thầy Đương gia. Năm đó, nhà chùa khai giới, cung thỉnh Lão pháp sư Đế Nhàn làm Đắc giới Hòa thượng. Thầy Tu Vô bấy giờ đến chùa Cực Lạc để giúp đỡ, thầy xin tá túc để mong tu chút phước báu. Pháp sư Định Tây bèn hỏi thầy: “Thầy có thể làm được việc gì?”. Thầy đáp: “Tôi nguyện ý chăm sóc những người bị ốm đau”. Khi ấy ở Đại lục, kỳ truyền giới kéo dài 53 ngày, các giới tử khó tránh khỏi việc bị trúng gió cảm mạo. Thầy phát tâm chuyên môn chăm sóc những tân giới tử bị ốm đau, Thường trụ đối với thầy cũng vô cùng cảm kích. Ở được vài ngày, thầy liền tìm Pháp sư Định Tây, tìm Lão hòa thượng Đàm Hư, thầy thưa rằng thầy muốn xin phép từ biệt, thầy sắp phải ra đi. Ngài Đàm Hư có chút công phu, nên không trách cứ thầy, chỉ nói thầy đi đến đâu cũng được. Pháp sư Định Tây thì không có được sự hàm dưỡng tốt như ngài Đàm Hư. Pháp sư Định Tây nói: “Thầy vừa mới đến được vài ngày, kỳ truyền giới của chúng tôi chẳng qua cũng chỉ hai tháng, công đức này của thầy làm còn chưa viên mãn, sao lại thối tâm muốn đi rồi?”. Rồi ngài trách cứ thầy Tu Vô. Thầy Tu Vô thưa: “Tôi không phải là đi đến nơi nào khác, mà tôi muốn đi đến thế giới Tây Phương Cực Lạc”. Hai vị Lão pháp sư vừa nghe xong, thấy chuyện này không hề đơn giản, là biết trước ngày giờ (dự tri thời chí), thế thì đâu phải chuyện đùa! Lập tức hai ngài chuyển đổi thái độ, thỉnh giáo thầy: “Khi nào thầy đi?”. Thầy Tu Vô đáp: “Chẳng quá mười ngày nữa”. Thầy yêu cầu Thường trụ chuẩn bị giúp cho hai trăm cân củi khô, để dùng vào việc hỏa thiêu sau khi vãng sanh. Pháp sư Định Tây liền lưu tâm sự việc này. Điều này thật quá hy hữu, ngay trong kỳ truyền giới lại có người chân thật vãng sanh, đây chính là tác chứng cho đại chúng, trong Tam chuyển pháp luân thì đây gọi là “Tác chứng chuyển”. Đến sáng sớm ngày hôm sau, thầy lại đi tìm hai vị Lão pháp sư. Thầy thưa: “Lão pháp sư, hôm nay tôi phải đi rồi”. Pháp sư Định Tây vội vàng dọn dẹp tạm một căn phòng trong nhà chứa củi, kê tạm một cái giường gỗ. Sư yêu cầu tìm vài người đến trợ niệm, tiễn thầy vãng sanh. Những người tiễn thầy vãng sanh đã tận mắt chứng kiến. Thầy Tu Vô xếp bằng hai chân, ngồi ngay tại đó, vãng sanh trong tư thế ngồi, không hề đau ốm, biết trước ngày giờ. Mọi người liền nói: “Thầy Tu Vô à, thầy cũng nên làm một bài kệ, hay một bài thơ, để lưu lại làm kỷ niệm cho chúng tôi chứ”. Thầy Tu Vô nói: “Tôi là một người xuất gia khổ não, chưa từng đi học, chẳng biết mặt chữ, tôi cũng không biết làm kệ, cũng chẳng biết làm thơ. Tuy nhiên, tôi có một câu nói thật thà có thể phụng cáo cùng đại chúng. Đại ý là, nếu không phải là chân thật tu hành, thì sẽ không có trí tuệ chân thật”. Mọi người nghe thầy nói mấy câu này, cũng cảm thấy vô cùng thiết thực, đích thực là lời lẽ của một người chân tu. Mọi người niệm Phật cho thầy chưa đầy một khắc đồng hồ, một khắc là 15 phút, thầy ngồi ngay tại chỗ đó, gương mặt đầy nụ cười mà ra đi. Lão pháp sư Đế Nhàn khi đến đạo tràng này, ngài đã đích thân đến viếng thầy, đối với thầy vô cùng tán thán, nhận định rằng thầy chính là một tấm gương sáng ngời đích thực cho người xuất gia chúng ta.