Những Lời Khai Thị Trí Huệ Trong Kinh Kim Cang
Chủ Đề 552: Học Phật Phải Xét Thời Và Cơ. Cơ Là Căn Cơ, Là Cơ Duyên
Chủ giảng: Pháp sư Tịnh Không
Thời gian: Tháng 05 năm 1995
Địa điểm: Cư Sĩ Lâm Phật Giáo Singapore
Trích lục từ: Báo cáo nghiên cứu Kim Cang Bát Nhã (Tập 048)
Chuyển ngữ: Tịch Minh
— ❖ —
【Học Phật phải xét thời và cơ. Cơ là căn cơ, là cơ duyên. Gọi là ‘thời’, ví như thời Nam Bắc triều, nhà Ngụy ở phương Bắc, nhà Lương ở phương Nam, không đâu là không hoằng dương Phật pháp mạnh mẽ, các đạo tràng giảng kinh cực kỳ hưng thịnh, nhưng không phải là không có sự chấp trước vào tướng văn tự. Cho nên Tổ Đạt Ma sang Đông, bèn chủ trương ‘không lập văn tự, chỉ thẳng tâm người’, chính là để đối trị lại căn bệnh của thời bấy giờ.】
Đoạn này rất quan trọng, đây chính là nói hoằng pháp nhất định phải biết quán cơ. Nói chung về quán cơ, không ngoài ba việc: Thứ nhất là người, giảng cho những ai nghe; thứ hai là nơi chốn, giảng ở nơi nào; thứ ba là thời gian, giảng vào lúc nào; đây gọi là ba lần xét cơ. Nếu đúng cơ, thì đó là điều Phật pháp chúng ta gọi là khế cơ, khế cơ khế lý, đó mới thực sự là diệu pháp do Phật tuyên thuyết. Vì vậy kinh Phật gọi là ‘khế kinh’, trên khế hợp với đạo lý mà chư Phật đã chứng, dưới khế hợp với căn cơ có thể độ được của chúng sanh. Tại sao phải quán cơ? Tác dụng của việc quán cơ ở chỗ nào? Đoạn này nói rất rõ ràng. Căn cơ là nói về người, tức là đối với hạng căn cơ nào thì nên nói pháp gì. Sau khi Đức Phật diệt độ, để lại nhiều kinh luận như vậy, pháp sư giảng kinh cũng giống như trị bệnh cho chúng sanh; đương nhiên pháp sư không có bản lĩnh như Phật, Phật quán cơ thuyết pháp thì tuyệt đối không bao giờ sai lầm, pháp sư chung quy phải cẩn thận dè dặt, quan sát căn cơ của chúng sanh, lựa chọn cho chúng sanh một pháp môn, như vậy mới có thể khiến cho tất cả chúng sanh được lợi ích. Trong đây còn có một chữ ‘duyên’, căn cơ của chúng sanh cần phải hiểu rõ, mà duyên cũng rất quan trọng, duyên không chín muồi thì cũng hết cách, nhân duyên phải chín muồi. Ví như chúng ta ở đây có một đạo tràng như thế này, đây là duyên, lại có rất nhiều đồng tu nhiệt tâm với Phật pháp, họ phát tâm thỉnh mời, họ phát tâm mời gọi đại chúng cùng đến tham học, đây đều là duyên phận. Hoàn cảnh chung, khu vực này an hòa lợi lạc, tức là xã hội ổn định, nhân dân no ấm, là một môi trường lớn rất lý tưởng để hoằng dương Đại thừa Phật pháp.
Tiếp theo là ‘thời’, thời tiết nhân duyên này cũng vô cùng quan trọng; thời là nói về thời gian. Ở đây đưa ra một ví dụ, giống như thời đại Nam Bắc triều ở Trung Quốc cổ đại, Nam triều là nhà Lương, mọi người đều biết Lương Võ Đế, kinh đô của nhà Lương ở Nam Kinh, Nam Kinh là cố đô của sáu triều đại, Tống, Tề, Lương, Trần đều đóng đô ở Nam Kinh. Phía Bắc có nhà Ngụy, do Thác Bạt Khuê lập nên, chúng ta gọi là người Hồ, thời đó gọi là người ngoại quốc, lập nên một vương triều ở phương Bắc. Hai vị quốc vương này đều là những Phật tử thuần thành, thỉnh mời các bậc pháp sư đại đức hoằng pháp lợi sanh, đạo tràng giảng kinh rất nhiều, người giảng cũng rất đông, Phật pháp vô cùng hưng thịnh, các pháp hội giảng kinh cực thịnh. Thế nhưng trong đây có một điều đáng tiếc, đó là rất nhiều vị đại đức giảng kinh đều chấp tướng, “nhiên bất vô thủ trước văn tự tướng” (tuy nhiên không phải là không chấp vào tướng văn tự), họ chấp tướng, thứ họ chấp là văn tự, không còn dính dáng gì đến tâm tánh nữa. Chư vị phải biết rằng, tinh hoa của Phật pháp Đại thừa là ở ‘minh tâm kiến tánh’, minh tâm kiến tánh tuyệt đối không phải chỉ có Thiền tông mới nói, tất cả Phật pháp Đại thừa đều lấy ‘minh tâm kiến tánh’ làm trung tâm. Trong Giáo hạ (các tông phái nương vào kinh giáo) tuy không dùng thuật ngữ này, họ dùng một thuật ngữ khác gọi là ‘đại khai viên giải’, đại khai viên giải chính là minh tâm kiến tánh; hay như trong Tịnh Độ tông lại đổi một thuật ngữ khác, gọi là ‘lý nhất tâm bất loạn’. Cảnh giới hoàn toàn giống nhau, chỉ là danh tướng mà mỗi tông phái nói đến không giống nhau mà thôi, đều lấy kiến tánh làm trung tâm, nếu không kiến tánh, thì đó không phải là Đại thừa. Trong các hội giảng kinh đều chấp tướng, chấp tướng thì biến thành cái gì? Thành tu phước.
Lương Võ Đế của Nam triều, vị này mọi người đều rất quen thuộc, trong lịch sử Phật giáo ngài có độ nhận diện rất cao, đại khái là có liên quan đến “Lương Hoàng Bảo Sám”, mọi người đều lạy Lương Hoàng Bảo Sám, lạy Lương Hoàng Bảo Sám nhất định sẽ nhắc đến Lương Võ Đế. Lương Võ Đế như thế nào? Chấp tướng tu phước. Tính cách của ngài là như vậy, chúng ta có thể liên tưởng đến, những vị pháp sư hoằng pháp thời bấy giờ, đa số cũng là chấp tướng tu phước, thì mới có thể kết giao thân thiết với Lương Võ Đế. Tổ Đạt Ma vừa đến, ngài muốn làm rõ việc minh tâm kiến tánh, hai người này nói chuyện không hợp cơ, không vui vẻ mà chia tay, Lương Võ Đế liền không hộ pháp cho ngài. Cho nên Tổ Đạt Ma đến Trung Quốc, thấy Phật pháp Đại thừa ở Trung Quốc được hoằng dương đều là chấp tướng tu phước, điều này không đúng pháp; kết quả của lối tu học này, chỉ là phước báu nhân thiên mà thôi, không thể liễu sanh tử ra khỏi tam giới, không coi là thành tựu. Nên ngài cất bước sang đây, nhắm thẳng vào căn bệnh này, đề xướng Thiền tông; Thiền tông là không lập văn tự, các vị đều chấp vào tướng văn tự, thì ngài hoàn toàn vứt bỏ văn tự, dùng phương pháp tham cứu. Khi ngài đến, phương pháp tham thiền tham cứu của Thiền tông dùng là ‘quán tâm’, ‘tham thoại đầu’ là chuyện về sau, Tổ Đạt Ma đến là truyền dạy ‘quán tâm’, hoàn toàn dứt bỏ văn tự, cách làm này chính là phương tiện được thiết lập nhằm đối trị lại căn bệnh chấp tướng của những người hoằng pháp và tu học thời bấy giờ.