Những Lời Khai Thị Trí Huệ Trong Kinh Kim Cang
Chủ Đề 388: Một Danh Xưng “Phật”, Chính Là Cái Tên Hiển Lộ Trọn Vẹn Cả Tánh Và Tướng. Không Giống Như “Như Lai”, Chỉ Là Danh Xưng Của Tánh Đức. Nay Nói “Phật Thuyết” (Phật Nói), Là Chỉ Bát Nhã Tức Phi Bát Nhã. Nghĩa Là Dùng Danh Tự Để Lìa Danh Tự Vậy. Làm Rõ Việc Tuy Không Hoại Tướng, Nhưng Vẫn Nên Hội Quy Về Tánh
Chủ giảng: Pháp sư Tịnh Không
Thời gian: Tháng 05 năm 1995
Địa điểm: Cư Sĩ Lâm Phật Giáo Singapore
Trích lục từ: Báo cáo nghiên cứu Kim Cang Bát Nhã (Tập 033)
Chuyển ngữ: Tịch Minh
— ❖ —
【Một danh xưng “Phật”, chính là cái tên hiển lộ trọn vẹn cả tánh và tướng. Không giống như “Như Lai”, chỉ là danh xưng của tánh đức. Nay nói “Phật thuyết” (Phật nói), là chỉ Bát Nhã tức phi Bát Nhã. Nghĩa là dùng danh tự để lìa danh tự vậy. Làm rõ việc tuy không hoại tướng, nhưng vẫn nên hội quy về tánh.】
Đoạn này là giải thích câu kinh văn: “Phật nói Bát Nhã Ba La Mật, tức phi Bát Nhã Ba La Mật”. Tại sao dùng “Phật nói”, mà không dùng “Như Lai nói”? Giữa “Như Lai nói” và “Phật nói”, ý nghĩa bên trong khác biệt rất lớn. Đây là điều người học Bát Nhã, đọc tụng Kinh Kim Cang không thể không biết. Danh xưng “Phật”, có lúc chuyên nói từ trên tướng; có lúc lại giống như ở đoạn này, bởi vì phần kinh văn bên dưới nối tiếp bằng câu: “Bát Nhã Ba La Mật, tức phi Bát Nhã Ba La Mật”. Chính do có hai chữ “tức phi” đi liền ngay sau đó, thế nên danh xưng này đã bao hàm trọn vẹn cả tánh và tướng ở trong đó. Bát Nhã Ba La Mật là tướng, tức phi Bát Nhã Ba La Mật là nói về tánh. Cho nên xem đoạn văn bên dưới, ý nghĩa của chữ “Phật nói” ở phía trên, chúng ta liền minh bạch. Nếu như nói “Như Lai nói”, đó là chuyên giảng về tự tánh, những câu như thế này trong Kinh Kim Cang cũng rất nhiều. Ý nghĩa ở đây là chỉ: nói Bát Nhã tức phi Bát Nhã, ý nghĩa này rất sâu. Bên dưới cho chúng ta biết, Bát Nhã là danh tự, “ngay nơi danh tự phải lìa tướng danh tự”, như vậy thì bạn mới thật sự biết nghe. Người không biết nghe thì chấp trước vào tướng danh tự, vậy là sai rồi, bạn liền không hiểu được nghĩa chân thật của Như Lai. Tất cả kinh điển Như Lai đã nói, tất cả pháp Ngài đã nói, mục đích lớn nhất của Ngài, chính là hy vọng bạn có thể từ trong ngôn thuyết mà kiến tánh. Chúng ta nghe Phật thuyết pháp, hoặc là chúng ta đọc tụng kinh Phật, đọc cho đến khi kiến tánh, đây mới là sự kỳ vọng chân thật của Phật đối với chúng ta. Làm sao mà nghe kinh liền kiến tánh? Làm sao mà đọc kinh liền khai ngộ? Đại triệt đại ngộ cùng với minh tâm kiến tánh là cùng một cảnh giới, trong Giáo hạ gọi là đại khai viên giải, nói thật ra mấu chốt chính là nằm ở chỗ không chấp tướng, không chấp tướng tức là hội quy về tự tánh.
Chúng ta thử nghĩ xem, vào thời nhà Đường lúc bấy giờ, Lục Tổ Huệ Năng của Thiền tông nghe một vị khách tụng Kinh Kim Cang, nghe người ấy tụng đến câu “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (nên không có chỗ trụ mà sanh tâm ấy), Đại sư Huệ Năng liền khai ngộ. Người tụng kinh không khai ngộ, vì sao người tụng kinh lại không khai ngộ? Vì người tụng kinh chấp tướng. “Ưng vô sở trụ”, liền chấp vào cái tướng của “ưng vô sở trụ”; “nhi sanh kỳ tâm”, liền chấp vào cái tướng của “nhi sanh kỳ tâm”, chấp tướng thì dù niệm thế nào cũng không khai ngộ. Chúng ta ngày nay niệm hai câu này, niệm một ngàn biến, niệm một vạn biến đều không thể khai ngộ được, nguyên nhân là gì? Do chấp tướng. Ngài nghe qua vì sao lại khai ngộ? Ngài không chấp tướng. Ngay nơi tướng lìa tướng, liền khai ngộ, mấu chốt chính là ở chỗ này. Thật đúng như câu nói sai một ly, đi một dặm, chỉ có một chút xíu đó thôi, đó chính là mấu chốt của mê và ngộ. Một pháp không chấp tướng, pháp pháp đều không chấp tướng, đó mới là thật. Phật nói Bát Nhã Ba La Mật, chúng ta không chấp vào cái tướng “Phật nói Bát Nhã Ba La Mật”, cái này có thể không chấp. Nhưng bạn mặc áo có chấp vào tướng mặc áo không? Ăn cơm có chấp vào tướng ăn cơm không? Vẫn còn chấp, vậy thì không được rồi, cái chỗ “Phật nói Bát Nhã Ba La Mật” này, bạn vẫn là đang chấp tướng. Chân thật ngộ, là một ngộ thì hết thảy đều ngộ, không thể nói tôi chỉ ngộ một bên này, bên kia chưa ngộ, không có đạo lý này; một mê là hết thảy đều mê.
Trong “Văn Sao” của Ấn Quang Đại sư có kể một câu chuyện, tôi nhớ không được rõ lắm, nhưng ấn tượng lại rất sâu sắc. Ngài kể có một vị Đại đức tham thiền, là một cư sĩ tại gia, bình sanh cũng khá tự phụ, ông ấy hạ công phu trên bộ “Ngũ Đăng Hội Nguyên”. Tông môn có nói đến một ngàn bảy trăm công án, đều nằm ở trong “Ngũ Đăng Hội Nguyên”. Vị ấy viết một bức thư thưa với Ấn Quang Đại sư, ông nói hơn một ngàn bảy trăm công án, gần như ông ấy đều tham thấu cả rồi, chỉ còn vài cái chưa rõ, chỉ còn lại vài cái thôi. Ấn Quang lão pháp sư hồi âm cho ông ấy một bức thư: Một ngàn bảy trăm công án, nếu như có một công án tham phá, thì ông toàn bộ đều tham phá, vẫn còn một công án chưa tham phá, thì ông hoàn toàn chưa tham phá. Lão cư sĩ này cũng rất hiếm có, nhận được bức thư giáo huấn này của Ấn Tổ, liền không tham thiền nữa, quay đầu lại lão thật niệm Phật. Thật sự chỉ cần một công án chưa tham phá được, thì đừng tự cho rằng mình đều đã tham phá, giả đó! Đạo lý này người biết được rất ít, không nhiều, cứ tưởng công phu của mình tài giỏi lắm, đến khi gặp được người trong nghề thực sự, chỉ điểm cho bạn một chút, bạn mới biết mình sai lầm hoàn toàn. Ở điểm này chúng ta phải lưu ý. Nếu như nói chỗ này của tôi không chấp trước, nhưng chỗ khác tôi vẫn chưa buông xuống được, vậy thì bạn hoàn toàn chưa buông xuống, một thứ cũng chưa buông xuống. Một việc buông xuống, thì muôn việc đều buông xuống, đều nhìn thấu, đó mới là Bát Nhã Ba La Mật, đó là thật, đó không phải là danh tự. Cho nên, tướng có còn hay không? Còn. Kinh Kim Cang đặt ở trước mặt chúng ta, là văn tự tướng, người biết thì ngay nơi văn tự hội quy về tự tánh, ngay nơi danh tự hội quy về tự tánh, ngay nơi sắc thanh hương vị xúc pháp hội quy về tự tánh, không có một pháp nào mà không hội quy về tự tánh, đó mới là chân thật kiến tánh, minh tâm kiến tánh, chân thật được đại tự tại. Đây là một việc quan trọng nhất trong việc dụng công tu hành, phải hiểu được sự hội quy tự tánh.