Những Lời Khai Thị Trí Huệ Trong Kinh Kim Cang
Chủ Đề 325: Đoạn Kinh Văn Này Là Phần Kết Thúc Cho Đoạn Văn Trước. Là Chỗ Điểm Nhãn Kết Huyệt Của Thiên Ngôn Vạn Ngữ Từ Khi Cất Lời Thuyết Pháp Đến Chỗ Này. Ý Thú Rất Sâu Sắc
Chủ giảng: Pháp sư Tịnh Không
Thời gian: Tháng 05 năm 1995
Địa điểm: Cư Sĩ Lâm Phật Giáo Singapore
Trích lục từ: Báo cáo nghiên cứu Kim Cang Bát Nhã (Tập 026)
Chuyển ngữ: Tịch Minh
— ❖ —
【Đoạn kinh văn này là phần kết thúc cho đoạn văn trước. Là chỗ điểm nhãn kết huyệt của thiên ngôn vạn ngữ từ khi cất lời thuyết pháp đến chỗ này. Ý thú rất sâu sắc.】
Các vị đồng tu thông thường đều biết, Lục Tổ Huệ Năng đại sư của Thiền Tông, năm xưa ở dưới hội của Ngũ Tổ, khi Ngũ Tổ giảng Kinh Kim Cang cho Ngài nghe, giảng đến chỗ này thì Ngài khai ngộ, đại triệt đại ngộ, phần phía sau không cần giảng nữa. Một ngộ là tất cả ngộ, không những nghĩa lý của Kinh Kim Cang Ngài đã minh bạch, mà nghĩa lý của Đại Bát Nhã Ngài cũng minh bạch, cho đến tất cả pháp mà Thế Tôn đã thuyết trong 49 năm, chẳng những là xuất thế gian pháp mà thế gian pháp cũng không có thứ gì là không thông đạt, không có thứ gì là không minh liễu. Ngài hướng về Thầy của mình, chính là Hòa thượng Hoằng Nhẫn (Ngũ Tổ), trình lên báo cáo tâm đắc của mình. Tuy ngôn ngữ không nhiều, nhưng Tổ sư Hoằng Nhẫn nghe xong, gật đầu ấn chứng cho Ngài, chứng minh xác thực là Ngài đã minh tâm kiến tánh.
Chúng ta biết Lục Tổ Huệ Năng đại sư chưa từng đi học, dùng lời hiện đại mà nói, Ngài là một người làm công việc nặng nhọc. Trước khi xuất gia, Ngài đốn củi bán củi để sống qua ngày, đó là một công việc rất vất vả. Vào thời đại xưa, gia đình thông thường đều dùng củi làm nhiên liệu, đốt bếp lớn đều phải dùng củi. Có những người nghèo khổ lên núi đốn củi, gánh vào trong thành để bán, là công việc tương đối khổ cực, Ngài lại không biết chữ.
Khi đến đạo tràng của Ngũ Tổ, đồ chúng của Ngũ Tổ rất đông. Ngài vừa mới đến đó, Ngài đến là vì phát tâm muốn xuất gia. Xuất gia phải hội đủ điều kiện xuất gia, có hoàn cảnh để xuất gia. Đồ chúng học trò của Tổ sư Hoằng Nhẫn đông như vậy, Huệ Năng đến đó đương nhiên cũng không thể ngoại lệ, cũng phải theo thứ tự mà xếp hàng, Ngài xếp ở vị trí cuối cùng. Đạo tràng này, đệ tử của Lão Pháp sư có mấy trăm người, mấy ngàn người, Ngài xếp ở sau chót. Cho nên Ngài chưa được thế độ, chưa được xuống tóc, trước tiên phái Ngài xuống phòng giã gạo để làm công quả. Phòng giã gạo chính là nơi làm việc trong nhà bếp. Chúng ta biết thời đó, đạo tràng của Hòa thượng Hoằng Nhẫn có khoảng hai, ba ngàn người. Hai, ba ngàn người ăn cơm thì gạo đó cần phải giã, củi lửa cần phải có người đi đốn, cần có người chẻ củi. Cho nên Ngài được phân công vào trong phòng giã gạo, làm công việc giã gạo, chẻ củi, tu khổ hạnh. Người khác nhìn vào dường như là đến chùa làm khổ sai, chúng ta hiện nay gọi là làm nghĩa công (công quả), làm khổ sai, kỳ thực Ngài ở ngay chỗ đó mà tu Giới - Định - Tuệ, tu Lục Ba La Mật, Ngài là chân tu.
Duyên phận của Ngài với Kinh Kim Cang có thể nói là vô cùng sâu sắc. Ban đầu vì bán củi, Ngài nghe được một người khách tụng Kinh Kim Cang, Ngài ở ngoài cửa sổ lắng nghe, nghe được rất hoan hỷ, bèn hỏi người khách này: “Ông tụng kinh gì vậy?”. Người khách liền chỉ dạy cho Ngài. Người khách rất tôn trọng Ngài, tuy Ngài là một người bán củi, nhưng từ cách nói năng đối đáp, biết Ngài có trí huệ khá cao, cho nên mới bảo Ngài rằng: “Hòa thượng Hoằng Nhẫn (Ngũ Tổ) đang truyền pháp tại Hoàng Mai, nếu ông có hứng thú với Kinh Kim Cang, nghe mà có tâm đắc, thì có thể đến nơi đó để tham học”. Thế mới đến Hoàng Mai.
Làm việc được tám tháng, Lão Pháp sư tuổi đã cao, muốn truyền pháp. Truyền pháp cũng có điều kiện, cần phải chân chánh khai ngộ thì pháp mới có thể truyền, nếu chưa khai ngộ thì dù có theo Lão Pháp sư thời gian lâu hơn nữa cũng không có cách gì đắc pháp. Lão Pháp sư truyền pháp rất là dân chủ, thông báo cho toàn thể tín đồ trong chùa, bất luận là xuất gia hay tại gia đều được, yêu cầu mọi người làm một bài kệ trình lên cho Lão Hòa thượng xem. Lão Hòa thượng xem kiến giải của người đó có khai ngộ hay không, nếu khai ngộ thì truyền Tổ vị cho người đó. Pháp sư Hoằng Nhẫn là đời thứ năm, truyền xuống dưới là đời thứ sáu, y bát liền truyền cho người đó. Y bát này là vật dụng của chính Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, đời đời truyền thừa lại, y bát chính là bằng chứng, người đạt được y bát này chính là Tổ sư của một đời.