2

Những Lời Khai Thị Trí Huệ Trong Kinh Kim Cang

Chủ Đề 1087: Nói “Như Lai”, Nói “Cụ Túc Tướng”, Hiển Thị Tánh Tuy Vô Tướng Nhưng Cũng Chẳng Phải Không Có Tướng (Phần Hạ)

Chủ giảng: Pháp sư Tịnh Không

Thời gian: Tháng 05 năm 1995

Địa điểm: Cư Sĩ Lâm Phật Giáo Singapore

Trích lục từ: Báo cáo nghiên cứu Kim Cang Bát Nhã (Tập 095)

Chuyển ngữ: Tịch Minh

— ❖ —

【Nói “Như Lai”, nói “Cụ túc tướng”, hiển thị tánh tuy vô tướng, nhưng cũng chẳng phải không có tướng. Nói đến “Cụ túc tướng”, người nghe có thể lĩnh hội trong câu ngầm chứa ý nghĩa tu phước đức. Người chứng Tánh ắt không đoạn diệt tướng, vả lại còn tu phước đức để quảng độ chúng sanh.】

Tiếp theo giảng rằng, “người chứng Tánh”, chứng tánh chính là thành Phật, minh tâm kiến tánh. Người thành Phật ắt không đoạn diệt tướng, tức là nói, người thành Phật nhất định sẽ rất nỗ lực tinh tấn giáo hóa chúng sanh, tu phước, rộng độ chúng sanh. Tôi nói với các đồng tu, rộng độ chúng sanh tất cả chúng ta thảy đều có phần, hơn nữa tất cả đều có thể làm được, không phải là không thể làm, mà hoàn toàn có thể làm. Lại nói đến việc nếu quý vị thực sự phát tâm hoằng dương Phật pháp, thì phước báo đó càng lớn hơn nữa, tự lợi lợi tha, thù thắng vô cùng. Chánh pháp nhất định phải có người hoằng dương, nếu không có người hoằng dương, Phật pháp ở thế gian này sẽ đoạn diệt. Do đó có thể biết, nếu là bồi dưỡng nhân tài hoằng pháp, thì đây là phước báo bậc nhất ở thế xuất thế gian, không có gì thù thắng hơn điều này.

Thế nhưng, bồi dưỡng nhân tài hoằng pháp, nhân duyên đó thật không dễ dàng, quá đỗi khó được. Những năm đầu Dân Quốc, cư sĩ Âu Dương Cánh Vô sáng lập Chi Na Nội Học Viện ở Nam Kinh, thời gian chỉ có hai năm. Những vị Đại pháp sư, Đại cư sĩ giảng kinh hoằng pháp đầu thời Dân Quốc, hầu hết đều từ Nội Học Viện mà ra, chỉ trong hai năm! Thực sự đã tiếp nối huệ mạng của chư Phật, đây quả thật là vô lượng công đức. Cho nên cái duyên này tương đối không dễ, bởi vì quý vị cần phải có kinh phí, có cơ sở, có đội ngũ giảng sư, có học trò, thiếu một duyên cũng không cách nào thành tựu, rất không dễ dàng! Phải làm sao đây? Thật ra mà nói, có một phương pháp, đó là chúng ta tự khuyên chính mình, tự khuyên chính mình đứng ra giảng kinh thuyết pháp. Lời này nếu ở thuở trước thì khó, thực sự là khó khăn, nhưng ở hiện tại thì có thể làm được.

Chúng ta xem trong cuốn “Niệm Phật Luận” của Pháp sư Đàm Hư, thấy có một vị cư sĩ tên là Trịnh Tích Tân. Tuổi của Trịnh Tích Tân chưa lớn lắm, ông là một thương nhân, làm nghề kinh doanh buôn bán. Về sau, nghe Lão Pháp sư Đàm Hư giảng kinh, nghe xong sinh tâm hoan hỷ, ông liền bỏ luôn việc buôn bán, không làm kinh doanh nữa, theo Lão Pháp sư học giảng “Kinh Di Đà”, ông chỉ biết giảng đúng một bộ “Kinh Di Đà”. Học một bộ kinh không khó, học giảng một thứ, sau khi học thành thạo rồi, ông liền đi khắp nơi giảng “Kinh Di Đà”, đi đến các vùng quê. Vùng quê không có ai đến, các vị Đại pháp sư hiếm khi có dịp về được tận vùng thôn quê. Người nghe kinh ở quê không nhiều, năm, sáu người, mười người, tám người đã là vô cùng quý báu rồi, đã là nhiều lắm rồi. Ở thôn này giảng xong một bộ, lại sang thôn khác, quanh năm suốt tháng ông chuyên đi ra ngoài giảng “Kinh A Di Đà”, đi khắp nơi giảng “Kinh A Di Đà”, chỉ biết giảng đúng một bộ đó. Về sau khi vãng sanh, ông vãng sanh ngay lúc đang đi giảng kinh, ông dự tri thời chí (biết trước lúc mất). “Kinh Di Đà” giảng xong, trong số đó có vài người bạn tốt, chính là những người bạn tốt đã thỉnh ông đến giảng kinh, ông bèn bàn bạc với vài người đó, nhờ họ thuê giúp mình một căn nhà. Ông nói: “Tôi sắp phải đi rồi!” Bạn hỏi: “Ông đi thì còn thuê nhà làm gì?” Ông bảo không phải đi đến nơi khác, mà là đi đến thế giới Tây phương Cực Lạc. Những người bạn đó hỏi ông: “Ông thật sự có nắm chắc không?” “Thật sự nắm chắc!” Thế thì không thành vấn đề, cứ đến nhà tôi là được rồi! Đều không kiêng kỵ, không hề kiêng cữ gì cả. Ở trong nhà người bạn, họ dọn dẹp sạch sẽ một căn phòng, ông ngồi xếp bằng trên giường, cáo biệt mọi người, nhờ mọi người niệm Phật tiễn ông vãng sanh. Những người bạn này mới nói với ông, những người vãng sanh trước đây, trước lúc ra đi thường làm vài bài kệ, làm vài bài thơ, để lại cho đại chúng làm kỷ niệm, ông cũng không thể ngoại lệ, cũng phải để lại vài bài kệ cho chúng tôi chứ. Cư sĩ Trịnh liền nói: “Không cần đâu, nhìn dáng vẻ của tôi thế này chính là kỷ niệm tốt nhất rồi.” Nói xong, mọi người niệm Phật cho ông, chưa đến một khắc đồng hồ, một khắc là mười lăm phút, ông đã ra đi, tự tại như thế đó, không hề ốm đau. Chỉ nhờ học giảng “Kinh Di Đà”!