Những Lời Khai Thị Trí Huệ Trong Kinh Kim Cang
Chủ Đề 1066: Không Thánh Không Phàm, Vốn Dĩ Bình Đẳng
Chủ giảng: Pháp sư Tịnh Không
Thời gian: Tháng 05 năm 1995
Địa điểm: Cư Sĩ Lâm Phật Giáo Singapore
Trích lục từ: Báo cáo nghiên cứu Kim Cang Bát Nhã (Tập 093)
Chuyển ngữ: Tịch Minh
— ❖ —
【Không Thánh không phàm, vốn dĩ bình đẳng. Cho nên Phật nói: Trên không có Phật đạo để thành, dưới không có chúng sanh để độ. Bởi vì độ tức là không độ, thành tức là không thành. Cho nên lại nói: Chân pháp giới bình đẳng, Phật không độ chúng sanh. Đây đều là đứng trên phương diện tánh thể bình đẳng mà nói vậy.】
Phía trước chúng ta đã từng nói qua, Phật y theo Nhị đế để thuyết pháp, cách giảng này là y theo Chân đế, cái gọi là y theo Chân đế chính là y theo chân tướng sự thật. Chân tướng sự thật thì phàm phu chúng ta không phát hiện ra, không nhìn thấy, còn chư Phật Bồ Tát nhìn thấy được chân tướng sự thật. Đứng trên mặt chân tướng sự thật mà nói, thì làm gì có phàm và Thánh? Có phàm có Thánh, đây là hai pháp (nhị pháp), không bình đẳng. Cho nên Phật pháp, thế nào là Phật pháp? Đem chân tướng sự thật thảy đều hiểu cho rõ ràng, hiểu cho tường tận rồi, thì gọi là Phật pháp; chưa hiểu rõ ràng, chưa hiểu tường tận, thì không phải là Phật pháp, định nghĩa của Phật pháp chính là như vậy đó (Như thị như thị). Khi đã rõ ràng rồi, tường tận rồi, thì nói thế nào cũng đúng, đều không sai. Nói không có Phật, không có chúng sanh, là đúng, không nói sai! Vốn dĩ là như vậy. Nói có Phật, có chúng sanh cũng đúng, cũng không nói sai, hiện tượng thực tế là như vậy. Một đằng là từ trên Thể mà nói, một đằng là từ trên Tướng mà nói. Nếu như chưa hiểu rõ, thì nói thế nào cũng sai, nên mới nói “mở miệng liền sai, động niệm liền trật”, quý vị không thấu hiểu chân tướng sự thật, quý vị lại chấp thật vào nó, quý vị không biết rằng tất cả pháp không thật không hư (vô thật vô hư).
Chúng ta thấy trong “Đàn Kinh”, khi Lục Tổ Huệ Năng rời khỏi Hoàng Mai, lúc bấy giờ đại chúng trong chùa rất không phục ngài, ngài mang y bát đi rồi, những người đó đều muốn cướp y bát đem về. Ngài đến ẩn mình trong đội thợ săn để lánh nạn, lánh nạn suốt mười lăm năm, thời gian không phải là ngắn, mười lăm năm. Về sau, ngài rời khỏi đội thợ săn đến Quảng Châu, hiện nay là chùa Quang Hiếu, nghe pháp sư Ấn Tông giảng “Kinh Niết Bàn”. Pháp sư Ấn Tông ở phương Nam cũng là một vị pháp sư giảng kinh thuyết pháp rất xuất chúng, rất nổi tiếng. Bên cạnh đại điện của ngôi chùa đó có cột cờ, trên cột treo phướn, gió thổi qua, gió động, phướn động. Có người đang tranh luận, người thì nói là gió động, người thì nói là phướn động, hai người tranh luận không dứt, ngài ở bên cạnh bèn xen vào một câu: “Chẳng phải phướn động, chẳng phải gió động, mà là tâm của nhân giả động”. Chẳng phải gió cũng chẳng phải phướn, là tâm của quý vị đang động. Những người nghe lúc đó cảm thấy ngài nói rất cao minh, cũng đều rất khâm phục. Pháp sư Ấn Tông nghe được, khi giảng kinh xong bước xuống bèn tiếp kiến ngài, thỉnh giáo ngài, lúc đó mới biết ngài chính là Lục Tổ của Thiền tông. Thế là liền thỉnh giáo ngài: “Lúc ngài ở Hoàng Mai, hòa thượng Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn nói về thiền định, giải thoát, là giảng như thế nào?”. Câu trả lời của ngài rất cao minh: “Thiền định, giải thoát là hai pháp, Phật pháp là pháp bất nhị”.
Chúng ta ở chỗ này nhìn thấy không phàm không Thánh, phàm và Thánh là hai pháp, Phật pháp là pháp bất nhị, làm gì có phàm và Thánh? Đồng một vị (nhất vị). Nói với quý vị là có phàm có Thánh, đây là nói với người sơ học, là nói với người chưa phá trừ được sự phân biệt chấp trước, nói cho quý vị nghe vô số những pháp tướng. Nói về Bồ Tát, thì nói với quý vị Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác, làm gì có nhiều đến như vậy! “Bản lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai” (Xưa nay không một vật, chỗ nào dính bụi trần), sao lại dính mắc một đống lớn đến như vậy? Quý vị phải hiểu được nghĩa thú thuyết pháp của Phật, Phật dùng rất nhiều lời lẽ như vậy để dẫn dụ quý vị, đến cuối cùng là dẫn dụ đến đâu? Dẫn dụ đến chỗ tâm địa thanh tịnh, một niệm không sanh. Tại sao Phật giảng những thứ này, bắt quý vị suốt ngày từ sáng đến tối phải khởi vọng tưởng? Phật nói cho quý vị nghe những danh từ pháp tướng này, quý vị ở chỗ này khởi vọng tưởng, thì vẫn cao minh hơn nhiều so với việc suốt ngày quý vị cứ nghĩ đến thị phi nhân ngã, tham sân si. Vọng tưởng của quý vị không thể dứt đoạn, Phật liền dùng một phương pháp khác để dẫn dụ quý vị, dẫn dụ cái vọng tưởng của quý vị sao cho không bị đọa vào ba đường ác, không bị đọa vào trong luân hồi dù vẫn còn đang khởi vọng tưởng; nương theo kinh Phật mà khởi vọng tưởng, phương pháp này rất vi diệu, rất cao minh. Thế nhưng, mục đích cuối cùng của Phật, nhất định là muốn đánh tan toàn bộ vọng tưởng của quý vị, khôi phục lại tự tánh, đây là mục tiêu tối hậu của Ngài. Điều này ở trong Phật pháp gọi là thiện xảo phương tiện. Nếu là người thượng căn lợi trí, Phật dạy họ sẽ đơn giản dễ dàng rồi, không có những thứ rườm rà này, đi thẳng vào vấn đề (đơn đao trực nhập), vậy thì rất đơn giản. Giống như “Kinh Kim Cang” đều là nói với người thượng căn, không phải nói với người trung hạ căn, Phật không giảng nhiều, nhưng cảnh giới trên quả địa thảy đều hiển lộ trọn vẹn. Cho nên, chúng ta phải biết sự thiện xảo trong việc thuyết pháp của Phật. Vì thế Phật ở trong kinh hết lần này đến lần khác bảo với chúng ta rằng, pháp do Phật nói ra không được chấp trước, bởi vì tất cả pháp được nói ra đều là pháp do nhân duyên sanh, đương thể tức không, liễu bất khả đắc; nếu như quý vị có thể nhận ra được đương thể tức không, liễu bất khả đắc, vậy thì chẳng phải là “pháp này bình đẳng, không có cao thấp” đó sao? Tại sao chúng ta ở trong tất cả pháp lại nhìn thấy không bình đẳng, lại có cao thấp? Bởi vì chúng ta không biết đó là pháp do duyên sanh, cũng không biết nó vốn là đương thể tức không, lầm tưởng là chân thật, như vậy mới có cao có thấp. Quý vị phải rõ ràng đạo lý này, đạo lý này hiểu rồi, thì đoạn này rất dễ giảng.