TRỒNG NHÂN THIỆN ĐƯỢC QUẢ THIỆN
Tập 7
Chủ giảng: Pháp sư Tịnh Không
Thời gian: Tháng 6 năm 1997
Địa điểm: Thư viện Phật giáo Hoa Tạng Cảnh Mỹ Đài Bắc
Việt dịch: Ban biên dịch Pháp Âm Tuyên Lưu
Hôm qua chúng ta đã giảng đến ba vị thiện hữu ở phần đầu trong 53 lần tham học, đại diện cho tam bảo. Tỳ-kheo Cát Tường Vân đại diện Phật bảo, tỳ-kheo Hải Vân đại diện pháp bảo, tỳ-kheo Diệu Trụ đại diện tăng bảo. Ba vị Bồ-tát này đều thị hiện bằng thân phận tỳ-kheo, ý nghĩa là nói cho chúng ta biết, người mới bước vào cửa Phật nhất định phải nương vào tam bảo, cũng chính là tam quy y mà chúng ta nói. Tam quy y là điều mọi người đều quen thuộc, nhưng thật sự hiển thị ý nghĩa này một cách viên mãn trọn vẹn, thì phải ở trong đoạn kinh văn này của kinh Hoa Nghiêm. Từ trong kinh văn, lúc này chúng ta mới hiểu rõ, bất luận là Đại thừa hay Tiểu thừa, bất luận là Hiển giáo hay Mật giáo, bất luận là Tông môn hay Giáo hạ, không một pháp nào là ngoại lệ. Nói đến niệm Phật, tất cả pháp môn đều là pháp môn niệm Phật; nói đến tham thiền, tất cả pháp môn đều là pháp môn tham thiền; nói đến trì chú, tất cả pháp môn đều là pháp môn trì chú. Điều này hiển thị lời trong kinh Hoa Nghiêm nói: “Một tức là tất cả, tất cả tức là một. Một tức là nhiều, nhiều tức là một.” Chúng ta rốt cuộc cũng đã bước đầu làm rõ ràng, làm sáng tỏ đạo lý và chân tướng sự thật này. Việc tu học của chúng ta, lúc này mới đạt đến đoạn nghi sanh tín, tâm địa cũng liền vững chắc rồi. Tuỳ theo căn tánh của chính mình mà chọn lựa pháp môn, thâm nhập một môn, như vậy mới có được một thành tựu.
Tỳ-kheo Hải Vân, vị này là đại diện cho pháp, trong tam bảo là đại diện cho pháp bảo. Pháp mà ngài truyền dạy là cương lĩnh chung, nguyên tắc chung trong pháp bảo, pháp này có thể xuyên suốt tất cả pháp. Ở phần mở đầu kinh văn, Thiện Tài đồng tử đến tham vấn ngài, ngài đặc biệt tán thán sự hiếm có của việc phát tâm bồ-đề. Liên quan đến việc này, ở trong kinh luận chúng ta cũng thấy không ít, cũng nghe không ít, nhưng từ trước đến nay chưa từng nghiêm túc tư duy, thể hội sự thù thắng của việc phát tâm bồ-đề. Trong 53 lần tham học, tỳ-kheo Hải Vân đối với việc phát tâm bồ-đề này nói rất nhiều, nói rất sâu sắc, khiến chúng ta biết được tâm bồ-đề thật sự là khó được, hiếm có đáng quý. Cho nên vừa phát tâm này liền có thể được chư Phật hộ niệm, liền có thể được các bậc thượng thiện tán thán, đây là đại căn đại bản của việc tu học. Nếu không phát tâm bồ-đề thì tất cả sự tu học đến sau cùng đều thành ra luống công. Cũng chính là nói, đều biến thành phước báo hữu lậu trong ba cõi sáu đường, hoàn toàn không liên quan gì đến đoạn hoặc chứng chân, liễu sanh tử, ra khỏi ba cõi. Đây là điều mà người học Phật chúng ta nếu muốn trong đời này có được một chút thành tựu, vậy nhất định không thể không biết.
Tỳ-kheo Hải Vân tán thán việc phát tâm bồ-đề, ngài nói 11 câu. Đại ý của 11 câu này là nói, một người phát tâm bồ-đề nhất định có tâm đại bi. Do đó có thể biết, tâm đại bi chính là dáng vẻ của tâm bồ-đề, chính là tác dụng của tâm bồ-đề. Điều mà tâm đại bi nói đến chính là phải cứu giúp tất cả chúng sanh khổ nạn. Phát tâm muốn cứu giúp tất cả chúng sanh khổ nạn, vậy làm sao còn có thể gây thêm phiền phức, thêm khổ nạn cho chúng sanh? Điều này nhất định không thể có.
Người thế gian, chúng sanh khổ nạn quá nhiều, quá nhiều rồi. Tâm bi là động lực ban đầu để cứu hộ chúng sanh, vĩnh viễn không có mỏi mệt, không có giải đãi, đem công việc này làm đến viên mãn trọn vẹn. Chúng ta hiểu được nỗi khổ não của chúng sanh từ đâu mà đến? Từ đâu mà sanh ra? Nói đến chúng sanh, cũng bao gồm cả chính mình. Trong tứ hoằng thệ nguyện có câu: “Tự tánh chúng sanh thệ nguyện độ, tự tánh phiền não thệ nguyện đoạn.” Chính mình là một chúng sanh trong đó, không phải ở ngoài chúng sanh. Qua đây có thể biết, tâm bồ-đề vừa phát, là trước độ bản thân, sau độ người khác. Nếu ngay cả bản thân mình cũng không muốn được độ, chúng ta phải giác ngộ, đó là chưa phát tâm bồ-đề. Nhưng mà rất nhiều người chưa phát tâm bồ-đề, bản thân lại cho rằng đã phát tâm bồ-đề, vấn đề này liền nghiêm trọng rồi, đây thật sự tạo thành chướng ngại, vì sao vậy? Nếu bản thân biết mình chưa phát tâm bồ-đề thì người ấy vẫn còn có hy vọng phát tâm. Chưa phát tâm bồ-đề, chính mình lại cho rằng đã phát tâm bồ-đề, hay nói cách khác, người ấy không có hy vọng phát tâm chân thật. Đây là điều mà hàng đồng học học Phật chúng ta, đặc biệt không thể không hiểu rõ. Hãy xem chúng ta có tâm đại bi hay không? Chúng ta có tâm đại từ hay không? Bi là cứu khổ, từ là ban vui. Từ bi thêm vào một chữ “đại”, chính là dùng tâm thanh tịnh bình đẳng, đây là đại. Còn có phân biệt thì đây không phải là ái duyên từ. Ái duyên từ thì người thế gian có. Tôi thích anh ta, tôi liền từ bi với anh ta; không thích anh ta, liền không từ bi với anh ta, loại từ bi này gọi là ái duyên từ bi. Trong kinh điển còn nói có chúng sanh duyên từ bi, pháp duyên từ bi, cảnh giới này là tầng sau cao hơn, thù thắng hơn tầng trước. Rốt ráo viên mãn mới gọi là đại từ đại bi, đây là điều mà Như Lai và các đại Bồ-tát mới có. Tâm địa thanh tịnh bình đẳng viên mãn, giúp chúng sanh lìa khổ được vui, tâm này chính là tâm đại từ bi. Ở chỗ này, điều chúng ta đặc biệt phải lưu ý, trước tiên phải giúp chính mình lìa khổ được vui, điều này nhất định không được xem nhẹ. Cho nên nhất định phải tìm ra căn nguyên của khổ vui, từ căn bản mà hạ thủ, như vậy mới dễ dàng, như vậy mới có thể thu được hiệu quả. Cho nên từ bi là tướng của tâm bồ-đề, tâm bồ-đề có thể, có tướng, có tác dụng.