Theo Lời Kể Của Cảnh Quan Hoàng Bách Lâm
Kinh Sư Dễ Gặp, Nhân Sư Khó Gặp
I. Nhân duyên thầy trò do kiếp trước định sẵn - bùn xuân nuôi hoa, tưới nhuần tuệ mạng.
Năm 1997, thông qua sự giới thiệu của cư sĩ Vương ở Học hội Liễu Phàm, học nhân đã đến thư viện Cảnh Mỹ để bái kiến sư phụ thượng nhân. Khi ấy, quán trưởng Hàn Anh đang ngồi phía sau sư phụ. Vừa gặp sư phụ, tôi đã có cảm giác thân quen, như thể đã từng quen biết, đôi bên trò chuyện rất vui vẻ. Tôi cung kính hỏi sư phụ: “Sư phụ, ngài giảng kinh hay đến thế, trong tương lai làm thế nào để lưu giữ những pháp bảo này ở thế gian nhằm giáo hóa con cháu đời sau ạ?” Sư phụ đáp: “Sử dụng thư viện máy tính, chính là thư viện số hiện đại. Dùng loại thư viện số này để ghi chép và lưu truyền pháp bảo cho đời sau, cho thế hệ kế tiếp, để con cháu đời đời kiếp kiếp đều được huân tập”. Không ngờ rằng, chính câu hỏi khi ấy đã gieo nên mối nhân duyên thầy trò thù thắng giữa học nhân và ân sư trong gần 22 năm!
Vào 4 giờ 15 phút chiều ngày 5 tháng 3 năm 1997, quán trưởng Hàn vãng sanh. Nhân duyên ấy thật không thể nghĩ bàn! Sau khi quán trưởng Hàn vãng sanh, sư phụ thượng nhân nhận lời mời của cư sĩ Lý Mộc Nguyên, dẫn theo chư vị pháp sư thường tùy chúng đến Cư sĩ lâm Singapore để tiếp tục giảng kinh hoằng pháp; thị hiện thân giáo “tùy duyên bất biến”, khiến đệ tử cảm phục! Có câu kệ rằng: “Đi qua cả bụi hoa, thân không dính mảnh lá”. Mặc cho vô thường biến hóa khôn lường, biển xanh hóa nương dâu, một câu Di-đà náu trong tâm thì ngọn lửa cũng hóa sen đỏ, tâm tịnh thì cõi Phật tịnh.
Năm 1998, học nhân dẫn theo các liên hữu đến Cư sĩ lâm Singapore tham học. Được Phật lực gia trì, sư phụ thượng nhân từ bi nhiếp thọ, tôi hổ thẹn được đứng vào hàng đệ tử. Và nhờ phước của sư phụ, học nhân được thân cận và chung sống cùng sư phụ trong bảy ngày. Từ sáng sớm đến chiều tối, tôi đều ở bên cạnh sư phụ để tiếp nhận huân tập; dụng tâm quan sát và cảm nhận từng lời nói, cử chỉ cao đẹp của sư phụ để khắc ghi vào tâm khảm. Thời điểm đó, sư phụ tận dụng giờ ăn sáng để khai thị và giảng giải Thái Thượng Cảm Ứng Thiên, pháp hỷ ngập tràn. Đặc biệt là còn được tham quan trai đường của Cư sĩ lâm Singapore, nơi quảng bá thực phẩm chay và cung cấp thực phẩm chay miễn phí cho tất cả những nhà nghèo khổ ở Singapore đến dùng bữa. Thì ra tôn chỉ của Vũ Hoa trai: “từ chối giết hại, không mua bán, chỉ có biết ơn”, đã có tiền lệ từ trước. Lòng bi nguyện vô tận trong sự cung kính sinh mạng và biết ơn việc ăn chay của họ, khiến học nhân cảm nhận sâu sắc trong tâm. Sư phụ đặc biệt nhắc đến việc chúng sanh trong cõi u minh khẩn cầu được niệm Phật, nhưng do ánh sáng ở niệm Phật đường quá mạnh nên không thể đi vào; nên sư phụ đã từ bi cho lắp đặt tivi ngay tại trai đường để phát kinh Địa Tạng, khiến cả hai cõi âm dương đều được lợi ích. Thật ra, chuyến tham học ở Singapore lần này, được lắng nghe sư phụ giảng kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện và Thái Thượng Cảm Ứng Thiên, đã có ảnh hưởng rất lớn đối với học nhân. Nó đã đặt nền tảng cơ bản cho việc học nhân giảng giải Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Khoa Chú ở Quỹ giáo dục Phật-đà sau này, cũng như gieo xuống một hạt giống cho việc tôi giảng Cảm Ứng Thiên Vựng Biên và An Sĩ Toàn Thư trên trang mạng hoằng hóa Hoa Tạng và đài truyền hình mạng văn hóa Hiếu Liêm.
Sau khi quán trưởng Hàn vãng sanh, pháp sư Ngộ Đạo cũng rời thư viện Cảnh Mỹ, đến một Phật đường tạm thời ở Thụy Phương để tự tu. Học nhân đã đến Phật đường này bái kiến pháp sư Ngộ Đạo, pháp sư nhờ học nhân chuyển một văn kiện trình lên sư phụ. Không lâu sau, sư phụ đã đến gặp pháp sư Ngộ Đạo, học nhân, cư sĩ Trịnh Chính Đức và cư sĩ Trần Vĩnh Tín tại khách sạn Sheraton Grand ở Đài Bắc. Sư phụ đã từ bi chỉ thị học nhân chuẩn bị thành lập Học hội Tịnh tông Hoa Tạng. Đến tháng 5 năm 1999, học hội chính thức được bộ Nội Chính phê chuẩn. Sau khi học nhân hoàn tất thủ tục đăng ký pháp nhân tại tòa án, lễ thành lập và khánh thành đã được tổ chức vào ngày 29 tháng 5. Đặc biệt, tuân theo chỉ thị của sư phụ, tất cả các Học hội Tịnh tông đều hoạt động theo nguyên tắc “vận hành riêng biệt, tài chính độc lập, nhân sự độc lập, hỗ trợ lẫn nhau” để triển khai mọi công việc. Đây chính là nguyên nhân thành lập Học hội Tịnh tông Hoa Tạng.
Vào ngày Tết dương lịch năm 2003, cư sĩ Trần Thái Quỳnh đã cho phát sóng đài truyền hình vệ tinh Hoa Tạng (được sư phụ đặt tên là thư viện nghe nhìn Phật giáo Hoa Tạng). Từ đây thư viện Hoa Tạng đã được tiếp nối trên không trung, tận dụng sự truyền bá của truyền hình vệ tinh công nghệ cao, để hiện thực hóa đại nghiệp hoằng pháp lợi sanh của sư phụ thông qua công nghệ cao.