2

Theo Lời Kể Của Cư Sĩ Tuệ Kiếm


Từ lần đầu tiên được bái kiến lão hòa thượng đến hôm nay, đã qua mười năm. Mỗi lần sang Hồng Kông, chỉ cần lão hòa thượng thuận tiện, mạt học đều đến bái kiến ngài. Tính tổng cộng trước sau, chắc cũng đã mấy chục lần rồi.

Thế nhưng, muốn để mạt học viết một bài văn ghi lại những việc nhỏ nhặt thường ngày cùng phẩm hạnh của lão hòa thượng, vẫn là một việc vô cùng khó khăn. Trong Chu Dịch có nói: “Lời ăn tiếng nói thường ngày phải giữ chữ tín, hành vi thường ngày phải nghiêm cẩn”. Lời ăn tiếng nói và hành vi của lão hòa thượng đã hoàn toàn hòa quyện vào mấy chục năm giảng kinh dạy học của ngài. Đức phong và hành nghi của ngài như núi cao, chúng ta chỉ có thể ngước nhìn, nào có thể dùng lời lẽ mà diễn tả cho được.

Lần đầu tiên mạt học được gặp lão hòa thượng là vào năm 2011. Khi ấy, lão hòa thượng vừa mới nhắc đến bộ sách Quần Thư Trị Yếu trên bục giảng không lâu. Các đệ tử bên cạnh lão hòa thượng đã đứng ra tổ chức cho nhân viên lên kế hoạch tiến hành chú thích và phiên dịch bộ sách này. Còn lập thành một nhóm nhỏ chuyên chú giải, tôi may mắn được tham gia trong đó. Để thuận tiện cho mọi người triển khai công việc này, nhóm chú giải đã mở cuộc họp đầu tiên ở Hồng Kông. Chính cuộc họp này cũng giúp tôi có duyên được bái kiến Tịnh công thượng nhân, người mà tôi hết sức tôn kính trong lòng.

Tôi nhớ lần lão hòa thượng gặp chúng tôi là vào một buổi tối. Khi ấy, cuộc họp về công việc chú giải đã kết thúc. Hay tin có một nhóm bạn trẻ chuẩn bị chú giải và phiên dịch Quần Thư Trị Yếu, lão hòa thượng rất hoan hỷ, vì thế đã đặc biệt sắp xếp thời gian để gặp mặt mọi người. Thời điểm đó, mỗi ngày lão hòa thượng đều giảng kinh dạy học, pháp vụ bận rộn, thời gian được xếp kín mít. Việc ngài có thể gặp riêng những người trẻ như chúng tôi, mọi người tự nhiên rất vui. Hơn nữa, khi ấy cũng có vài người giống như tôi, là lần đầu tiên được gặp lão hòa thượng, nên trong lòng không khỏi rất phấn khích. Khi đó nơi giảng kinh của lão hòa thượng là ở Tiêm Sa Chủy (Hồng Kông), đó cũng chính là trụ sở làm việc hằng ngày của Hiệp hội giáo dục Phật-đà Hồng Kông. Ở cái nơi tấc đất tấc vàng, địa phương cực kỳ chật hẹp như Hồng Kông, phòng nghỉ nơi lão hòa thượng tiếp khách cũng rất nhỏ. Đoàn chúng tôi có mười mấy người, mọi người đồng loạt đảnh lễ lão hòa thượng ba lạy. Sau này nghe người bên cạnh lão hòa thượng kể lại: bình thường khi tín chúng đảnh lễ ngài, lão hòa thượng luôn nói “không cần lạy”; nếu tín chúng đã lạy rồi, ngài sẽ bảo “một lạy là được rồi”. Khắc sâu trong ký ức tôi là lần đó, khi chúng tôi đảnh lễ ngài ba lạy, ngài hoàn toàn không nói “không cần lạy” hay “một lạy là được rồi”. Vì thế chúng tôi mới cung kính đảnh lễ ngài ba lạy. Tình huống như vậy, trong những lần gặp gỡ lão hòa thượng về sau, cũng chưa từng gặp lại nữa.

Sau khi đảnh lễ lão hòa thượng, mọi người đều ngồi xuống. Vì không gian nhỏ hẹp nên hết sức chật chội; và vì trong lòng mọi người đều kính sợ lão hòa thượng, nên cũng ngại chen lên ngồi cạnh ngài. Cuối cùng lại để tôi được ngồi bên cạnh ngài. Tiếp đó, ngài khai thị cho chúng tôi về tầm quan trọng của văn hóa truyền thống và Quần Thư Trị Yếu. Ngài chân thành nhắn nhủ rằng, mọi người phải phát tâm; phát tâm cứu đời độ người giống như chư Phật Bồ-tát; phải thật sự thực hành văn hóa truyền thống ngay nơi bản thân mình; mà điều đầu tiên chính là phải có tâm thành kính. Một người có mười phần thành kính thì sẽ có được mười phần lợi ích. Rất lâu sau đó, tôi mới hiểu rằng việc lão hòa thượng để chúng tôi đảnh lễ ba lạy, thật ra chính là để bồi dưỡng tâm cung kính của chúng tôi. Những lời khai thị của ngài hôm ấy, theo thời gian trôi qua, nội dung cụ thể mà tôi có thể nhớ được đã không còn nhiều. Nhưng điều khiến người ta khắc sâu nhất chính là lần đầu tiên đảnh lễ ba lạy ấy, đó là điều tôi làm sao cũng không thể quên được.

Nhiều năm sau, theo lão hòa thượng nghe kinh học tập, tôi hiểu ra một đạo lý: bất luận là chư Phật Bồ-tát hay thầy tổ, kỳ thực các ngài vốn không cần chúng ta cung kính; mà chính chúng ta cần phải biết cung kính cha mẹ và sư trưởng, như vậy mới có thể khai mở kho tàng tự tánh của chúng ta. Khi chúng ta cung kính cha mẹ và sư trưởng, cho đến hết thảy mọi người, thực chất cũng chính là đang cung kính bản thân mình.

Nhờ có sự động viên của ngài, công việc chú giải Quần Thư Trị Yếu tiến triển khá thuận lợi. Hơn nửa năm sau, bản thảo đầu tiên cơ bản đã hoàn thành. Vì mạt học vốn làm công việc xuất bản, nên việc hiệu đính lần cuối và xuất bản cũng do tôi phụ trách. Bộ sách Quần Thư Trị Yếu bản gốc có 50 quyển, nhưng trong quá trình lưu truyền đã bị thất lạc mất 3 quyển, thật khiến người ta lấy làm tiếc. Chính vào lúc công việc chú giải của chúng tôi sắp hoàn tất, chúng tôi nhận được thư của ngài. Hóa ra ngài lúc nào cũng đau đáu về chuyện này; ngoài việc giảng kinh, ngài còn đọc kinh điển, từ bản sách gốc biên tập lại phần Tả Truyện (thượng) bị thiếu trong Quần Thư Trị Yếu. Trong ba quyển bị thiếu của Quần Thư Trị Yếu, ngoài một quyển thuộc Tả Truyện, phần Hán Thư vẫn còn thiếu hai quyển. Thấy lão hòa thượng đích thân thị phạm như vậy, mạt học vừa cảm động, vừa hổ thẹn. Thế là, không ngại mình hiểu biết nông cạn, tôi đã biên tập hai quyển văn bản còn thiếu từ Hán Thư, rồi trình lên lão hòa thượng. Sau khi xem qua, ngài hết sức hoan hỷ, cho phép bổ sung vào cả bộ sách. Nhờ đó bộ Quần Thư Trị Yếu vốn khuyết thiếu suốt nhiều năm đã được bổ sung đầy đủ, khôi phục lại sự toàn vẹn về mặt hình thức. Điều khiến người ta xúc động hơn là không lâu sau, ngài còn đặc biệt viết thư gửi cho mạt học, khen ngợi công việc biên tập hai quyển Hán Thư của mạt học. Bức thư ấy mạt học vẫn luôn cẩn thận cất giữ. Đó không chỉ là sự cổ vũ và khích lệ của một trưởng giả đại đức dành cho người trẻ, mà càng là minh chứng cho sự gìn giữ của một nhân giả đối với điển tịch văn hóa Trung Hoa. Về sau, bộ Quần Thư Trị Yếu hoàn chỉnh gồm 50 quyển này đã được xuất bản thành một bộ sách đóng chỉ bản lưu giữ quý giá. Lão hòa thượng còn hoan hỷ viết tặng bốn chữ “trí tuệ chân thật”, dùng đó để khuyến khích người đời nay thâm nhập học tập.