Theo Lời Kể Của Ngô Khải Lị / Ngô Khải Đế
Chúng học trò sinh ra trong một gia đình học Phật, thế hệ ông nội từng đảm nhiệm chức lâm trưởng của Cư sĩ lâm, từng xây dựng nhiều ngôi chùa, từ thuở thiếu niên đã theo mẹ lễ Phật, niệm Chú Đại Bi v.v.. Mỗi khi nghe mẹ tụng kinh, trong lòng chúng học trò luôn khát khao hiểu được ý nghĩa của kinh văn; nhưng vì lớn lên ở New Zealand, mà thời điểm đó việc tiếp cận Phật pháp còn rất khó khăn. Mãi đến năm 1996, khi chuyển đến Sydney - Úc sinh sống, chúng học trò mới có thể tiếp xúc với pháp bảo của sư phụ thượng nhân. Kể từ đó, mẹ hằng ngày đều nghe các đĩa giảng kinh, và chia sẻ “pháp dược” với gia đình, nhờ vậy cả nhà nhận được rất nhiều lợi ích. Điều này khiến chúng học trò thường suy nghĩ: “Vì sao những bài giảng kinh của sư phụ thượng nhân vẫn chưa được dịch sang tiếng Anh?” Sau này, chúng học trò hỗ trợ cha mẹ trong lớp Đệ Tử Quy của Học hội Tịnh tông, và môn tôn giáo tại các trường tiểu học ở Sydney, dùng tiếng Anh để giảng giải Đệ Tử Quy và Nhận Thức Phật Giáo. Trong quá trình học tập và làm việc, chúng học trò càng nhận thấy rõ giá trị của giáo dục Phật-đà và văn hóa Trung Hoa, đồng thời cũng thấy sự khan hiếm của các pháp bảo bằng tiếng Anh. Đến năm 2013, chúng học trò may mắn được thân cận sư phụ thượng nhân, làm tình nguyện viên phiên dịch và hỗ trợ tiếp đón các vị khách cho Hiệp hội Giáo dục Phật-đà Hồng Kông.
Trong tâm khảm của chúng học trò, lời nói và hành vi của lão hòa thượng chính là sự biểu lộ viên mãn của tự tánh, là sự thể hiện rốt ráo của chân lý Nho - Phật - Đạo phương Đông cũng như các tôn giáo phương Tây. Đại ân đại đức như thế, chỉ có Phật và Phật mới có thể thấu triệt đến tận cùng, chúng học trò thật hổ thẹn, làm sao dám lấy ống nhìn trời, dùng bầu đong biển? Thời gian chúng học trò đi theo sư phụ thượng nhân không dài, nay được mời hồi tưởng lại thân giáo của lão hòa thượng, nên chúng học trò xin sắp xếp ghi lại những điều tai nghe mắt thấy của hàng phàm phu như dưới đây, kính dâng để mọi người tham khảo.
1. Thầy trò như cha con
Sự giáo hóa nhẹ nhàng như gió xuân mưa nhuần của sư phụ thượng nhân đối với các học trò, khiến người ta cảm nhận được mối quan hệ truyền thống “thầy trò như cha con”. Vậy lão hòa thượng đã ban tặng tình yêu thương như người cha hiền như thế nào? Sư phụ thượng nhân bôn ba ngày đêm để hoằng pháp, vốn đã rất cực nhọc. Nhưng khi gặp những học sinh phát tâm hoằng pháp, ngài không bỏ rơi dù họ có ngu dốt ngoan cố, ngài cũng không ngại nhọc nhằn mà tiếp tục chỉ dạy. Khi chúng học trò được thân cận sư phụ thượng nhân, đó cũng là lần đầu tiên sống trong môi trường sử dụng tiếng Trung, nên khả năng diễn đạt bằng tiếng phổ thông còn thua xa trình độ của trẻ em. Đối mặt với chúng học trò từ nước ngoài đến, còn ngu muội thiếu hiểu biết, lại khó giao tiếp; vậy mà lão hòa thượng cùng các vị đại đức hộ pháp, dù bận rộn trăm công nghìn việc, vẫn từ bi đến cực điểm, chưa từng ghét bỏ. Ngược lại, các ngài kiên nhẫn chỉ dạy, bao dung rộng lượng, chăm sóc chúng học trò vô cùng chu đáo. Sư phụ thượng nhân còn thỉnh pháp sư Thắng Diệu giảng dạy Luận Ngữ Giảng Yếu và kinh Vô Lượng Thọ cho chúng học trò, đồng thời dạy viết chữ bằng bút lông. Pháp sư Khai Cát thì dạy chúng học trò phiên âm Hán ngữ. Nhờ tấm gương thanh tịnh và sự bồi dưỡng tận tâm của các vị pháp sư, chúng học trò bắt đầu từ con số không, từng bước một học tập giáo dục của thánh hiền. Trong lúc thích nghi với môi trường ngôn ngữ hoàn toàn mới, chúng học trò cũng đồng thời học các môn Hán học và làm công việc tình nguyện. Vì thế chúng học trò thường cảm thấy mỗi ngày trôi qua thật phong phú, thậm chí thời gian còn không đủ dùng. Cho đến khi đang ngủ mà vẫn mơ thấy mình đọc thuộc bài, lúc ăn cơm cũng chẳng rõ mùi vị, chúng học trò mới ý thức được rằng sư phụ thượng nhân và hộ pháp đang giúp chúng học trò buông xuống thân tâm thế giới, giống như cha mẹ giúp trẻ nhỏ khắc phục tập khí của mình.
Lão hòa thượng không chỉ tạo dựng môi trường học tập ưu việt, thiết kế chương trình học và cung ứng mọi nhu cầu để chúng học trò thuận lợi tu học, mà còn trao cho cơ hội phiên dịch văn ngôn, luyện tập phúc giảng và tham gia các hoạt động hoằng pháp quốc tế. Chẳng hạn như: học tập và thử sức phiên dịch điển cố trong bộ Đạo Đức Tùng Thư, rồi đúc kết những cảm ngộ ấy viết thành văn bản; trình bày báo cáo chuyên đề tại trụ sở UNESCO ở Paris - Pháp; làm báo cáo học tập trong các hoạt động đại lễ tế tổ ở London và Lampeter - Anh Quốc; cũng như hỗ trợ các buổi tọa đàm về văn hóa truyền thống của Học viện Tịnh tông Úc Châu.