PHẬT THUYẾT ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ
TRANG NGHIÊM, THANH TỊNH, BÌNH ĐẲNG, GIÁC KINH
Phúc giảng lần thứ ba: Cô Lưu Tố Vân
Thời gian: 08/05/2024
Địa điểm: Tiểu viện Lục Hòa
Việt dịch: Ban biên dịch Pháp Âm Tuyên Lưu
Tập 61
Chư vị đồng tu tôn kính, chào mọi người. A-di-đà Phật! Mời xem kinh văn tiếp theo:
Phạm âm Phật nói như sấm vang, tiếng bát âm hân hoan vi diệu.
Chánh sĩ mười phương đến, Ta đều biết chí nguyện,
Cầu trang nghiêm Tịnh độ, thọ ký sẽ thành Phật.
Giác ngộ hết thảy pháp, như mộng huyễn tiếng vang,
Tròn đầy các diệu nguyện, ắt thành cõi như thế.
“Phạm âm Phật nói như sấm vang”, “Phật” được nói ở đây là chỉ A-di-đà Phật. Âm thanh của Phật cực kỳ thanh tịnh, do đó gọi là Phạm thanh. Phạm thanh có năm đặc điểm:
1. Trầm hùng như sấm: tiếng ca lời hát hiện nay thiếu đi sự trầm hùng này.
2. Trong trẻo vang xa: vô cùng trong trẻo, có thể truyền đi rất xa, người nghe trong tâm an vui.
3. Lòng người vui kính: người nghe thấy liền sanh tâm cung kính, vô cùng hoan hỷ vui vẻ.
4. Hiểu rõ như thật và dễ hiểu: tiếng Phạm thiên nói ra rất dễ hiểu.
5. Người nghe không chán: khiến người ta vô cùng muốn nghe.
“Sấm vang” tỉ dụ cho pháp âm Đại thừa như tiếng sấm, Phật dùng pháp âm của trí vô ngại có thể chấn động tình thức của chúng sanh. Trong bản dịch thời Đường nói: tiếng sấm đại pháp rền vang của Phật tẩy sạch cấu uế trong tâm chúng sanh, từ đó đạt đến khai ngộ.
“Tiếng bát âm hân hoan vi diệu”, Phật dùng tám loại âm thanh vi diệu để diễn nói diệu pháp. Trong kinh Phạm-ma Dụ có nói về hàm nghĩa của “bát âm”:
1. Thanh âm hay nhất: âm thanh ấy êm dịu hòa nhã, không làm người ta nóng nảy, thương xót chúng sanh mê muội không tỉnh.
2. Thanh âm dễ hiểu: khiến người nghe rõ ràng, rất dễ thấu đạt.
3. Thanh âm hài hòa: âm thanh lớn nhỏ thích đáng, hợp với lý trung đạo.
4. Thanh âm nhu nhuyễn: âm thanh rất dịu dàng, không kích động áp chế người khác.
5. Thanh âm không lỗi: ngôn từ không có sai lầm.
6. Không phải tiếng người nữ: tiếng của Phật hùng hồn, người nghe kính phục, khiến ma quân và ngoại đạo quy thuận.
7. Thanh âm tôn tuệ: có thể khiến người nghe sinh khởi tâm kính trọng, trong tâm bỗng nhiên được khai sáng.
8. Thanh âm sâu xa: âm thanh rất sâu xa, giống như sấm vang, khiến người nghe có thể chứng ngộ đạo lý rất sâu.
“Chánh sĩ mười phương đến”, “chánh sĩ” chính là Bồ-tát, thường dùng cho người tại gia. Tiếp theo là lời Thế Tôn thuật lại khai thị của A-di-đà Phật. A-di-đà Phật nói: Ta biết chánh sĩ các ông đều có đại nguyện thù thắng. Khởi tâm động niệm của chúng sanh, Như Lai đều biết đều thấy. Những vị chánh sĩ từ mười phương này cũng phát đại nguyện giống như đức Di-đà, tương lai khi thành Phật cũng muốn thành tựu cõi nước như Cực Lạc. A-di-đà Phật tức thời biết được, nên đã diễn nói pháp vô thượng tương ưng cho họ, thỏa mãn nguyện vọng của họ.
Làm thế nào để thành tựu cõi nước Cực Lạc? A-di-đà Phật nói: “Hiểu rõ hết thảy pháp, như mộng huyễn tiếng vang.” Trong Đại Trí Độ Luận nói “hết thảy pháp” đại khái chia làm ba loại:
1. Pháp hữu vi.
2. Pháp vô vi.
3. Pháp chẳng thể nói.
“Như mộng huyễn tiếng vang”, tỉ dụ cho các pháp hư vọng không thật, như giấc mộng, như huyễn hóa, như tiếng vang trong hang trống. Trong Hội Sớ nói “như mộng” là mọi sự vật giống như vật trong mộng, rốt ráo chẳng thể đạt được. “Như huyễn” là giống như nhà ảo thuật biến hiện ra tướng ảo, rất giống vật thể thật, nhưng thể của nó là tịch diệt. “Như tiếng vang” là giống như tiếng vọng nơi hang trống, vốn không có tự tánh. Các pháp cũng là như vậy.
“Tròn đầy các diệu nguyện”, trong Tịnh Ảnh Sớ nói: hiểu rõ các pháp như mộng huyễn tiếng vang, đây là trí tuệ; “tròn đầy các diệu nguyện”, đây là đại nguyện. Không những phát khởi diệu nguyện, mà còn có thể tu tập, nhiếp thủ, làm viên mãn những đại nguyện này, hòng chứng minh nguyện này là chân thiết. Dùng trí tuệ và nguyện lực làm nhân, do đó được Phật thọ ký rằng “ắt thành cõi như thế”. Mặc dù thấu đạt các pháp là không, nhưng vẫn mong muốn nhiếp lấy cõi Tịnh, nhờ đó không rơi vào hai bên “có” và “không”, khế hợp với trung đạo. Đây chính là tôn chỉ căn bản của Tịnh độ tông. Kinh Duy-ma-cật nói: “Dẫu biết các cõi Phật và chúng sanh là không, nhưng thường tu Tịnh độ để giáo hóa quần sanh.” Trong kinh Kim Cang nói: cả ngày độ sanh mà cả ngày chẳng độ; trọn ngày không độ mà suốt ngày độ sanh. Như vậy không rơi vào hai bên “không” và “có”, mới là cảnh giới lý sự vô ngại của Viên giáo.