1

Kính thưa Thầy và các Thầy Cô!

Chúng con xin phép chia sẻ một số nội dung chính mà chúng con ghi chép trong bài Thầy Vọng Tây giảng từ 4h50′ đến 6h00′, thứ Sáu, ngày 27/3/2026.

****************************

PHẬT HỌC THƯỜNG THỨC

BÀI 382

PHẬT PHÁP SUY LÀ VÌ KHÔNG CÓ NGƯỜI THẬT LÀM

Không chỉ riêng Phật pháp, mà ngay cả chuẩn mực của Thánh Hiền hay các giá trị đạo đức tốt đẹp ở thế gian cũng đang dần bị mai một vì thiếu những tấm gương thực chứng để người khác nhìn vào mà noi theo. Chúng ta ca ngợi Phật pháp tốt, chuẩn mực Thánh Hiền tốt, nhưng nếu chính người nói còn không cảm nhận được cái tốt đó thì làm sao thuyết phục được ai? Thực tế, có nhiều người quảng bá pháp môn Niệm Phật rất thù thắng, nhiệm màu, nhưng chỉ một thời gian ngắn sau lại chạy theo một pháp khác không còn là Phật pháp. Trước đây có những người làm trưởng tràng Niệm Phật không dưới mười năm, vậy mà sau đó họ lại chạy theo những pháp không phải Chánh pháp. Điều này khiến những người mới học Phật cảm thấy vô cùng mơ hồ và mất lòng tin. Họ sẽ nghĩ rằng: một người đã tu học hàng chục năm mà còn bỏ cuộc thì việc học này chắc gì đã mang lại lợi ích thực sự?

Cho nên, Hòa Thượng nói: “Phật pháp suy là vì không có người thật làm. Phật pháp suy là vì có những người đem Phật pháp nói cho người khác làm, còn chính mình thì không làm.” Ngày nay chúng ta thấy rất nhiều người chỉ nói ngoài miệng rằng hãy bố thí, cúng dường đi, sẽ có nhiều phước báu. Người khác nghe theo và làm, còn chính họ thì không làm. Họ nói rất nhiều về nhân quả để người khác tin, nhưng bản thân lại không tin. Hòa Thượng từng kể một câu chuyện khiến Ngài phải nổi da gà về hai người tu hành bàn luận với nhau. Một người hỏi: “Anh có tin nhân quả không? ”, người kia thản nhiên đáp: “Tôi thì không tin, làm gì có nhân quả ”. Thật đau lòng khi những người mang hình tướng tu sĩ lại có kiến giải nông cạn như vậy. Nhân quả là quy luật hiển nhiên của vũ trụ: trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, gieo nhân gì gặt quả nấy. Anh không tin không có nghĩa là nó không tồn tại. Sự hưng suy của Phật pháp qua từng thời kỳ hoàn toàn phụ thuộc vào việc có nhiều hay ít người “thật làm”. Đáng ngại nhất là những người mượn danh nghĩa nhà Phật để mưu cầu danh văn lợi dưỡng, biến tu hành thành hình thức để nhận sự cúng dường. Vì vậy, Phật pháp lúc thịnh lúc suy không nằm ở nơi Phật pháp, mà nằm ở nơi con người. Nếu có nhiều người thật làm thì Phật pháp hưng thịnh. Nếu chỉ còn hình thức, thiếu người thật làm, thì Phật pháp sẽ dần suy tàn.

Dù trải qua vài ngàn năm nữa, nếu ai đó thật tu thật học thì Phật pháp vẫn luôn như mới và người đó nhất định thành tựu. Thời kỳ Chánh Pháp hay Mạt Pháp thực chất nằm ở lòng người. Người xưa tâm an định vì không có nhiều thứ gây xen tạp, như Hòa Thượng suốt 40-50 năm không quản tiền, không quản việc, không quản người. Còn chúng ta ngày nay thường muốn quản cả những việc không phải của mình, tâm bị nhiễu động liên tục nên tu hành khó có thành tựu. Đó mới chính là nguyên nhân của thời kỳ Mạt Pháp.

Chúng ta cũng biết căn tính mỗi người khác nhau. Có người căn tính lanh lợi, nghe qua liền hiểu một cách chính xác. Có người căn tính chậm hơn, nghe rồi vẫn chưa hiểu. Có người nghe thì chịu làm, có người nghe mà không chịu làm. Cho nên, Phật pháp không phải tự nó có lúc chánh, lúc mạt. Trong Phật pháp nói đến ba thời kỳ: năm trăm năm đầu là thời kỳ Chánh pháp, năm trăm năm kế tiếp là thời kỳ Tượng pháp, năm trăm năm sau nữa là thời kỳ Mạt pháp. Vì sao? Vì con người ở mỗi thời đại có quá nhiều thứ để xen tạp. Cho nên, nếu chúng ta tu học Phật pháp thì phải biết giữ chánh duyên.

Phật pháp dạy chúng ta một đạo lý: Nhiều việc không bằng ít việc, ít việc không bằng không việc gì. Bởi lẽ nhiều việc thì nhiều phiền não, nhiều vọng tưởng và nhiều tham cầu. Tốt nhất nên giảm bớt việc để tâm được bình lặng mà niệm Phật. Thế nhưng, có nhiều người lại sợ cảm giác trống trải, họ tìm việc để làm chỉ vì sợ buồn, sợ cô đơn. Thực tế, khi tâm ta chưa thật sự an, ta vẫn luôn thấy có rất nhiều việc cần phải làm, nhưng chính những việc đó lại đang ngăn cản bước đường tu tập của chúng ta.

Thực tế, nếu sức khỏe của tôi cho phép thì bộ “Tịnh Độ Đại Kinh ” đã được phiên dịch xong từ lâu. Khi giao cho người khác làm, có khi một tháng họ còn chưa ra được một đĩa; trong khi trước đây trung bình ba ngày là tôi đã hoàn thành một đĩa. Bây giờ có những tập phải đợi một tháng, hai tháng, thậm chí ba tháng. Đúng như người xưa đã nói: “Cầu người khó, phải cầu ở chính mình ”. Thế nhưng hiện tại, bản thân tôi cũng không thể tự làm được nữa vì tôi đã làm việc vượt quá định mức thời gian cho phép của một đời người. Có những năm tháng tôi ngồi máy tính đến mười tiếng đồng hồ mỗi ngày, làm liên tục như vậy suốt nhiều năm nên bây giờ cơ thể đã “từ chối”. Hiện tại, đôi bàn tay này chỉ cần gõ nhẹ vào bàn phím là các đầu ngón tay đã thấy đau buốt.