Những Lời Khai Thị Trí Huệ Trong Kinh Kim Cang
Chủ Đề 937: Huệ Nhãn, Dùng Căn Bản Trí, Soi Tỏ Lý Chân Không
Chủ giảng: Pháp sư Tịnh Không
Thời gian: Tháng 05 năm 1995
Địa điểm: Cư Sĩ Lâm Phật Giáo Singapore
Trích lục từ: Báo cáo nghiên cứu Kim Cang Bát Nhã (Tập 080)
Chuyển ngữ: Tịch Minh
— ❖ —
【Huệ nhãn, dùng Căn bản trí, soi tỏ (chiếu kiến) lý chân không.】
Chúng ta gọi đó là Huệ nhãn. Do đây có thể thấy, tiêu chuẩn của Huệ nhãn là phải chứng được Căn bản trí. Trong Phật môn chúng ta thường giảng là đại triệt đại ngộ, trong Thiền tông là đại triệt đại ngộ, trong Giáo hạ là đại khai viên giải, người niệm Phật thì được nhất tâm bất loạn, thảy đều đạt đến cảnh giới này. Căn bản trí chính là “vô tri” mà trên kinh Bát Nhã đã nói, quý vị nhất định phải ghi nhớ: Bát Nhã vô tri. Bát Nhã là trí tuệ chân thật xứng tánh, trí tuệ chân thật ấy gọi là vô tri. Vô tri, thưa cùng quý vị, tuyệt đối không phải là kẻ ngu si đần độn. Ngu si đần độn thì làm sao có thể gọi là Căn bản trí được? Từ vô tri khởi tác dụng thì vô sở bất tri (không gì là không biết), cho nên “Bát Nhã vô tri, vô sở bất tri”. Từ đó cho thấy, vô tri chính là nói đến tâm thanh tịnh, cũng chính là điều mà chúng ta thường gọi là Thiền định; đây là thứ Thiền định thâm sâu mà trong pháp thế gian không hề có.
Về Thiền định của thế gian pháp, Phật giảng trên kinh là Tứ thiền Bát định: được Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền. Đạt được loại thiền định này, tương lai có thể sanh lên Tứ thiền thiên, thuộc Sắc giới thiên, vượt ra khỏi Dục giới. Nếu như tiếp tục tu đạt đến Tứ không định, họ sẽ siêu việt Sắc giới tiến vào Vô sắc giới, sanh vào Tứ không thiên của Vô sắc giới; cho nên đây chúng ta gọi là Tứ thiền Bát định. Tuy nhiên, sanh đến Tứ không thiên, quý vị phải hiểu rõ, vẫn chưa ra khỏi Tam giới. Nói cách khác, định công của họ có thể đè phục phiền não, chứ chưa đoạn phiền não; Kiến Tư phiền não họ có năng lực thảy đều đè phục được, khiến nó không khởi tác dụng. Vào lúc định lực của họ khởi tác dụng và đè phục được phiền não, giai đoạn này có thể tạm coi cảnh giới họ đạt được là “chánh thọ”, là “tam muội”. Nhưng tại sao chúng ta lại không gọi đó là “chánh thọ tam muội” thực sự? Bởi vì nó chỉ là tạm thời, chứ không phải là vĩnh hằng. Tầng cao nhất trong Tứ không định là Phi tưởng phi phi tưởng định. Cao nhất trong Tứ không định, định lực của nó có thể duy trì đến tám vạn đại kiếp. Khoảng thời gian này quả thực là rất dài, thật sự không thể nghĩ bàn! Nó có thể duy trì tám vạn đại kiếp, thế nhưng sau khi tám vạn đại kiếp trôi qua, định của họ sẽ bị mất đi, thì họ vẫn sẽ thoái chuyển, sẽ đọa lạc. Do đó có thể thấy, định công ở trong tam giới lục đạo, xét trong năm loại thọ mà Phật đã nói là khổ, lạc, ưu, hỷ, xả, thì nó thuộc về xả thọ, là xả thọ tạm thời, không thể gọi là tam muội. Nếu như đạt được định này, vĩnh viễn không bao giờ bị mất đi, vậy thì mới gọi là tam muội, vậy thì mới gọi là chánh thọ. Bắt buộc phải dụng công thêm, nỗ lực thêm, đem định công đó nâng lên thêm một tầng nữa, nhà Phật gọi đó là Cửu thứ đệ định (Đệ cửu định).
Trên kinh Lăng Nghiêm, Phật cũng giảng rất chi tiết, Đệ cửu định siêu việt lục đạo, siêu việt luân hồi, chứng quả A-la-hán, Kiến Tư phiền não đoạn dứt rồi. Lúc này Huệ nhãn mở ra, Huệ nhãn mở ra chính là nhìn thấy được “lý chân không”. Lý chân không là gì? Là nhìn thấy thể tánh của tất cả các pháp, “vạn pháp giai không, liễu bất khả đắc” (vạn pháp đều không, trọn chẳng thể được). A-la-hán nhìn thấy rồi, nhìn thấy được chân tướng sự thật này. Tâm của Ngài thanh tịnh rồi, đối với hết thảy pháp thảy đều quyết định không có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước; đây là cảnh giới của Đệ cửu định. Ở trong kinh Bát Nhã, xưng cảnh giới này là Căn bản trí. A-la-hán tuy rằng biết tất cả các pháp đều là không, thế nhưng mọi hiện tượng từ đâu mà có? Ngài không thấu rõ. “Không” (chân không) có thể hiện ra tướng, tướng có thể biến hóa, sự việc này vô cùng phức tạp, A-la-hán không thể thấu rõ. Tại sao A-la-hán không thể thấu rõ? Vì Ngài không học nữa. Sau khi Ngài chứng được lý không, Ngài tự mình ở nơi đó hưởng thụ, không chịu tiếp tục cầu học nữa. Cho nên trí tuệ của Ngài không viên mãn, chỉ thấu rõ một phần, phần còn lại thì không thấu rõ; cũng chính là Ngài thấu rõ bản thể, nhưng Ngài không thấu rõ hiện tượng.