1

Những Lời Khai Thị Trí Huệ Trong Kinh Kim Cang

Chủ Đề 818: Cúng Dường, Nói Tóm Lại, Chính Là Ẩm Thực, Y Phục, Ngọa Cụ, Thang Dược, Gọi Là “Tứ Sự Cúng Dường”

Chủ giảng: Pháp sư Tịnh Không

Thời gian: Tháng 05 năm 1995

Địa điểm: Cư Sĩ Lâm Phật Giáo Singapore

Trích lục từ: Báo cáo nghiên cứu Kim Cang Bát Nhã (Tập 069)

Chuyển ngữ: Tịch Minh

— ❖ —

【Cúng dường, nói tóm lại, chính là ẩm thực, y phục, ngọa cụ, thang dược, gọi là tứ sự cúng dường.】

Đây là nói một cách đơn giản, Phật trong giới kinh thường xuyên giảng rằng, đệ tử Phật tại gia có nghĩa vụ phải cúng dường đệ tử Phật xuất gia. Vì sao vậy? Bởi vì đệ tử xuất gia đã từ bỏ sự nghiệp sản xuất, do đó cuộc sống phải nương cậy vào sự cúng dường của các đồng tu tại gia. Tại sao lại từ bỏ sự nghiệp sản xuất? Để chuyên tâm tu học, tiếp nối huệ mạng của Phật, hoằng pháp lợi sinh, các ngài làm công việc này. Cho nên đây là điều mà đồng tu tại gia nên cúng dường; nếu không có những người phát tâm này, Phật pháp ở thế gian sẽ đoạn tuyệt, sẽ không thể truyền lại cho đời sau, đây là điều chúng ta phải biết. Nhưng Phật nói rất hay, điều này có làm tăng thêm gánh nặng cho đồng tu tại gia hay không? Không hề. Phật nói đồng tu tại gia cúng dường người xuất gia là có giới hạn, chỉ trong bốn việc này thôi. Phải cúng dường ẩm thực (thức ăn), năm xưa Phật còn tại thế, đó là chế độ khất thực (thác bát), cho nên người xuất gia đi khất thực, [thì tín đồ] nhất định phải cúng dường, cúng dường thức ăn cho các ngài. Phải cúng dường y phục, y phục của các ngài không nhiều, ở Ấn Độ chỉ có “tam y nhất bát” (ba y một bát). Y phục không phải là thứ thường xuyên cúng dường, nhưng ẩm thực thì phải cúng dường mỗi ngày. Y phục mặc rách không thể mặc được nữa thì mới cúng dường thêm một bộ, các ngài cũng không được phép có nhiều y phục. Tiếp đến là ngọa cụ (đồ trải để nằm ngủ), người xuất gia thời đó có cuộc sống vô cùng thanh khổ, “nhật trung nhất thực, thụ hạ nhất túc” (mỗi ngày ăn một bữa giữa ngọ, ngủ một đêm dưới gốc cây), thời Đức Phật còn tại thế là như vậy, hoàn toàn không có nhà để ở. Ngủ một đêm dưới gốc cây, bên dưới có trải một vật để lót, chúng ta bây giờ gọi là ‘cụ’ (tấm trải). Thế nhưng hiện nay ngọa cụ của người xuất gia đã không còn dùng làm tấm lót để ngủ nữa, các ngài lấy nó làm tọa cụ (đệm bái Phật) để lạy Phật. Trong các buổi đại lễ của Phật môn chúng ta, khi vị Lão Hòa thượng chủ lễ đứng ở vị trí chính giữa lạy Phật và thực hiện nghi thức trải tọa cụ (gọi là ‘triển cụ’), thực chất tấm cụ đó vốn là ngọa cụ ngày xưa, không phải để trải lên đệm lạy Phật đâu, là ngọa cụ, công dụng ngày nay đã thay đổi rồi. Hiện nay chúng ta vẫn còn giữ vật này, thực ra mà nói là mang tính chất kỷ niệm, để biết được cuộc sống ngày xưa thanh khổ như thế nào, cuộc sống của chúng ta bây giờ đã quá sung sướng rồi, nếu không dụng công, không nỗ lực thì có lỗi với người xưa, là để chúng ta sinh tâm tàm quý, ý nghĩa là như vậy. Thang dược, đây là khi ốm đau bệnh tật thì nhất định phải cúng dường thuốc thang chữa bệnh, đây gọi là “tứ sự cúng dường”. Ngày xưa người xuất gia chỉ tiếp nhận những thứ này.

Một ngàn năm sau khi Thế Tôn diệt độ, Phật giáo truyền đến Trung Quốc. Truyền đến Trung Quốc rồi, chúng ta phải biết rằng, hệ tư tưởng của người Trung Quốc, cũng tức là cách nhìn về vũ trụ nhân sinh, không giống với người Ấn Độ, phương thức sinh hoạt của người Trung Quốc cũng không giống. Những vị cao tăng đại đức quá khứ khi đến Trung Quốc, các ngài vô cùng thông minh, muốn độ người Trung Quốc thì Phật pháp bắt buộc phải được Trung Quốc hóa. Phương thức sinh hoạt hoàn toàn theo kiểu của người Trung Quốc, nên người Trung Quốc chúng ta hoan nghênh, rất ưa thích, đối với chúng ta chỉ có sự tiện lợi chứ không có chỗ nào không tốt. Thế là y phục chúng ta mặc, chính là mặc áo Hải thanh. Hải thanh là y phục của Trung Quốc, đây không phải là của Phật môn, Phật môn chỉ có một tấm y khoác ngoài thôi. Hơn nữa tấm y khoác ngoài này, ở Trung Quốc chúng ta lại thu nhỏ nó lại, chỉ bằng một phần ba kích thước của y nguyên bản. Trước kia chúng ta dùng dây để buộc, buộc dây thì phiền phức, bây giờ dùng móc gài, đỡ tốn công hơn nhiều. Tấm y nguyên bản đó, hiện nay Phật giáo Tiểu thừa ở Sri Lanka, Thái Lan vẫn giữ nguyên, tấm y đó rất lớn, quấn quanh người, y nguyên bản là như thế. Trung Quốc chúng ta thu nhỏ nó lại, tiện lợi hơn trước rất nhiều, đó là Trung Quốc hóa. Tại sao chúng ta lại có y phục riêng? Bởi vì Trung Quốc chúng ta nằm ở phía Bắc Ấn Độ, khí hậu tương đối lạnh lẽo, ba y (tam y) tuyệt đối không thể giữ ấm được, cho nên chúng ta mặc y phục của chính mình, rồi khoác y lên bên ngoài để biểu thị ý nghĩa kỷ niệm, trang phục vẫn là trang phục của chính chúng ta. Áo Hải thanh là trang phục thời nhà Hán, thời nhà Hán, những người đi học thông thường, đại khái là những người không làm việc chân tay nặng nhọc, đều mặc trang phục này, áo chùng dài, ống rộng, tay áo rất to. Đây là y phục của Trung Quốc, đây không phải là y phục của người xuất gia.