Những Lời Khai Thị Trí Huệ Trong Kinh Kim Cang
Chủ Đề 789: Bất Cứ Nơi Đâu Cũng Đều Được Tam Bảo Gia Bị, Thiên Long Ủng Hộ
Chủ giảng: Pháp sư Tịnh Không
Thời gian: Tháng 05 năm 1995
Địa điểm: Cư Sĩ Lâm Phật Giáo Singapore
Trích lục từ: Báo cáo nghiên cứu Kim Cang Bát Nhã (Tập 067)
Chuyển ngữ: Tịch Minh
— ❖ —
【Trong thời đại ngày nay lại càng nên hoằng dương rộng rãi, khiến cho mọi nơi mọi chốn đều có bộ Kinh này. Có như thế thì ở bất cứ nơi đâu cũng đều được Tam Bảo gia bị, Thiên Long ủng hộ. Tức là mọi nơi mọi chốn đều đạt được sự bình an, yên ổn.】
Ý nghĩa này chúng ta không thể không biết, chẳng những phải biết, mà còn phải thể hội một cách sâu sắc. Phật Pháp là pháp bình đẳng; Pháp là bình đẳng, Lý là bình đẳng, thế nhưng nhân tình lại chẳng bình đẳng. Nhân tình là gì? Chính là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước; những thứ này không hề bình đẳng. Không bình đẳng thì sẽ tạo thành chướng ngại cho việc hoằng dương Phật Pháp. Không chỉ nói riêng ở xã hội hiện tại, mà ngay cả khi Thế Tôn còn tại thế năm xưa, Ngài thực sự đã không quản ngại gian lao vất vả, đi khắp năm xứ Ấn Độ. Chúng ta hãy thử nghĩ xem, lúc bấy giờ giao thông bất tiện, không có phương tiện đi lại, hoàn toàn phải dựa vào việc đi bộ. Thời Thế Tôn còn tại thế, người Ấn Độ không đi giày, họ đều đi chân trần. Đi khắp Ấn Độ từ Nam chí Bắc, từ Đông sang Tây đều đi bằng đôi chân trần, so với chúng ta hiện nay thì sự cực nhọc chẳng biết gấp bao nhiêu lần; chúng ta ngày nay đi bộ vẫn còn có giày để mang. Việc hoằng pháp vào thời điểm đó có thuận lợi hay không? Chưa hẳn đã thuận lợi. Trong xã hội có chín mươi sáu loại ngoại đạo, tuy rằng những ngoại đạo này đều bị Phật hàng phục, nhưng cái gọi là “hàng phục” ở đây là khi biện luận thì họ đã thua. Một số thì rất tốt, những vị thủ lĩnh của các ngoại đạo này rốt cuộc vẫn là người có tu dưỡng, họ thực sự khâm phục, thực sự tâm phục khẩu phục. Nhưng những đồ chúng bên dưới thì vẫn có kẻ không phục; không phục nhưng ngoài miệng thì hết cách. Không thể biện luận lại, nhưng trong lòng chẳng phục, thế nên sự tật đố (ghen ghét) và chướng ngại là điều không thể tránh khỏi. Đó là hoàn cảnh bên ngoài, là hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ. Trí huệ của Phật lớn lao, phước báo của Phật to lớn, tuy có chướng ngại nhưng Ngài vẫn có thể khắc phục được, nhờ vậy việc hoằng dương Phật Pháp vẫn được xem là thuận lợi.
Ngay trong nội bộ Tăng đoàn, cũng có một số ác Tỳ-kheo không nghe lời; trong Kinh có ghi chép về nhóm “Lục quần Tỳ-kheo”, họ thường hay quậy phá trong Tăng đoàn, gây ra biết bao rắc rối cho Tăng đoàn. Đây là một bộ phận người trong Tăng đoàn cũng có tâm tật đố và gây chướng ngại. Tuy nhiên về sau, khi chúng ta đọc Kinh mới biết được rằng, trong đoàn thể của Thế Tôn khi ấy, bất luận là người nghe lời, người lão thật tu hành, hay là kẻ ngoan cố, kẻ quậy phá nghịch ngợm, kẻ ngày ngày kiếm chuyện gây rắc rối, thì thảy đều là do chư Phật, Bồ-tát đến thị hiện; chẳng phải là thật, các Ngài đến để thị hiện mà thôi. Tại sao các Ngài lại phải thị hiện quậy phá nghịch ngợm? Nếu không thị hiện như vậy, thì Phật Thích Ca Mâu Ni sẽ không chế định giới luật. Giới luật được hưng khởi như thế nào? Phật nhìn thấy: “Chao ôi, người này làm sai chuyện rồi”, Ngài liền chế định ra một điều giới luật, răn dạy rằng: “Về sau các ông không được phép làm như vậy nữa”. Các Ngài đã dùng phương pháp này để khiến Thế Tôn chế định giới luật, cố ý làm ra những việc phá giới, phạm giới ấy, để rồi sau này chúng ta mới có được một bộ Giới luật hoàn chỉnh. Tất cả thảy đều là Phật, Bồ-tát, chứ không phải là hạng người gian ác phạm pháp thật sự.
Thế nhưng, từ sau khi Phật diệt độ cho đến ngày nay, những kẻ phá giới, phạm giới chẳng phải là do Phật, Bồ-tát thị hiện nữa, mà đó thực sự là đang tạo tác tội nghiệp, thực sự là sẽ phải đọa vào tam đồ (ba đường ác); điều này chúng ta nhất định phải hiểu cho rõ. Cổ nhân thường nói “hảo sự đa ma” (việc tốt thường gặp ma chướng). Chớ nên cho rằng ta làm việc tốt, ta tồn tâm tốt, làm việc tốt, thì hẳn là mọi việc sẽ thuận buồm xuôi gió; chưa chắc đã là như vậy. Nguyên nhân là do đâu? Thứ nhất, phiền não tập khí của chúng ta từ vô thủy kiếp đến nay vẫn chưa đoạn trừ; từ vô lượng kiếp đến nay, chúng ta đã tạo tác biết bao nhiêu là tội nghiệp, chúng ta đã kết oan thù với vô số chúng sanh. Đời này tuy chúng ta không làm việc xấu, nhưng đời trước, đời trước nữa, đời đời kiếp kiếp thì ai mà dám bảo đảm được! Chẳng cần nói đến việc gì khác, hay việc kết những ác duyên nào khác với chúng sanh, chúng ta chỉ đưa ra hai ví dụ đơn giản nhất: một là trộm cắp, hai là sát sanh. Liệu chúng ta có dám nói rằng mình chưa từng làm không? Về việc trộm cắp, tuy không ăn trộm món đồ gì to tát, nhưng người ta có một tờ giấy, một cây bút ở đây, chúng ta tiện tay lấy dùng một chút, lấy mà chẳng nói với họ một tiếng, đó đều là trộm cắp. Dùng xong rồi chúng ta lại đặt sang một bên, vậy vẫn bị coi là trộm cắp; cảnh giới của trộm cắp vốn vô cùng vi tế. Trong sinh hoạt đời thường, đối với tài sản của công, hay như việc nộp thuế cho chính phủ, hễ cứ tìm cách nộp thuế ít đi một chút, đó chính là trộm cắp. Dù chưa làm! Nhưng hễ có ý niệm ấy thì chính là trộm cắp, là đã dấy khởi tâm trộm cắp. Quý vị có cái tâm trộm cắp, cho dù chưa làm ra hành vi trộm cắp, thì quý vị đã có sẵn tâm trộm cắp rồi. Về việc sát sanh, quý vị nói “tôi không hề sát sanh”, vậy xin hỏi quý vị có ăn thịt hay không? Thịt đó nếu không qua sát sanh thì từ đâu mà có? Ăn thịt tức là sát sanh.