1

Những Lời Khai Thị Trí Huệ Trong Kinh Kim Cang

Chủ Đề 725: Trong Tâm Còn Có Một Chỗ Đắc, Thì Bạn Đã Trụ Ở Quả Rồi

Chủ giảng: Pháp sư Tịnh Không

Thời gian: Tháng 05 năm 1995

Địa điểm: Cư Sĩ Lâm Phật Giáo Singapore

Trích lục từ: Báo cáo nghiên cứu Kim Cang Bát Nhã (Tập 061)

Chuyển ngữ: Tịch Minh

— ❖ —

【Trong tâm còn có một chỗ đắc, thì bạn đã trụ ở quả rồi.】

Những lợi ích mà bạn đạt được, những của cải mà bạn có được, chỉ cần bạn có chỗ đắc (sở đắc), thế gian pháp thường nói là thất tình ngũ dục, chỉ cần bạn có chỗ đắc, thì bạn đã trụ ở quả rồi. Do đó có thể thấy, nếu ba việc cảnh, hạnh, quả này mà chúng ta đều không tránh khỏi sự dính mắc, bạn thảy đều trụ ở cả cảnh, hạnh, quả, thì hoàn toàn trái ngược với giáo nghĩa Đại Thừa, như vậy không gọi là học Phật. Cách tu học như vậy, nói một cách chân thật, chính là “kẻ đáng thương xót” mà trong kinh đã nói. Người thế gian không được nghe Phật pháp thì không thể gọi là đáng thương, vì họ không có cơ hội, chưa được tiếp xúc; nhưng được nghe Phật pháp mà lại học sai, học điên đảo, thì đây mới thật là đáng thương. Vì sao họ học sai, vì sao lại học điên đảo? Vì không đọc tụng kinh điển, không hiểu được nghĩa lý của kinh.

Điều này tôi vừa mới nói rồi, thời xưa ở Trung Quốc vì tôn sùng hàng trí thức, tôn sùng việc đọc sách, nên mọi người luôn cố gắng tìm cách để đọc một chút sách, do đó đọc hiểu kinh Phật không hề khó. Kinh Phật tuy là được dịch từ thời xưa, nhưng đó là thứ văn tự bạch thoại dễ hiểu nhất thời bấy giờ, nói cách khác, đó là bạch thoại văn của thời đó. Nếu bạn không tin, bạn hãy xem “Kinh Vô Lượng Thọ” được dịch vào thời nhà Hán, bạn đi xem cổ văn của thời nhà Hán lúc bấy giờ, bạn đem so sánh thử xem, kinh của chúng ta rất dễ hiểu, còn cổ văn thì mới khó hiểu. Các vị Đại sư dịch kinh đã vô cùng từ bi, đã suy nghĩ rất chu đáo, dùng những văn tự nông cạn, dễ hiểu nhất, hy vọng rằng mỗi một người chỉ cần học qua một chút sách vở là đều có thể đọc hiểu được kinh Phật, đều có thể hiểu được ý của Phật. Văn tự kinh Phật của chúng ta, trong văn học được gọi là “biến thể văn”, văn học hiện đại gọi đó là biến thể, chữ “biến” trong biến hóa, biến thể, nó dễ hiểu hơn cổ văn rất nhiều. Thế nhưng bây giờ thì rắc rối rồi, người thời nay hoàn toàn không học cổ văn, thế là những bộ kinh Phật nông cạn dễ hiểu nhất khi cầm trên tay lại xem không hiểu, bị chướng ngại về mặt văn tự, điều này thật khó khăn!

Đây là một cửa ải khó khăn rất lớn của người hiện đại chúng ta, bắt buộc phải đột phá. Dùng phương pháp gì để đột phá? Đọc tụng. Nền giáo dục của Trung Quốc trong quá khứ dạy bắt đầu từ đâu? Dạy từ việc học thuộc lòng. Bạn muốn đi học, bạn muốn làm một người trí thức, thì bước đầu tiên chính là học thuộc lòng cổ văn. Nền giáo dục thời xưa, ở bậc tiểu học, thầy giáo dạy học trò chính là dạy các em học thuộc lòng sách, không có giảng giải; phương pháp giảng dạy này có ghi chép trong lịch sử, từ thời nhà Hán mãi cho đến những năm đầu Dân Quốc, đều dùng phương pháp này. Trẻ em bảy tuổi đi học, đi học chính là theo thầy, không sống ở nhà nữa, phải ở cùng với thầy giáo, lúc bảy tuổi là ở cùng với thầy giáo. Đại khái mỗi tháng vào thuở trước, mùng một và ngày rằm được nghỉ, về nhà một chuyến, bình thường đều phải luôn theo thầy. Đây gọi là học, học những gì? Học cách sống, học cách quét tước, đối nhân xử thế. Thầy giáo dạy các em quét nhà, dạy các em lau bàn, tùy xem độ tuổi lớn nhỏ mà dạy những việc có thể làm được, khiến cho các em từ nhỏ đã siêng năng, việc gì trong nhà các em cũng đều biết làm. Phục vụ thầy giáo, các em có thể hầu hạ thầy giáo thì khi về nhà sẽ có thể hiếu thuận với cha mẹ, đây là điều thầy giáo phải dạy. Nói cách khác, những gì thầy dạy là giáo dục đời sống, dạy bạn đứng có tướng của đứng, ngồi có tướng của ngồi, học những thứ này. Về mặt văn tự, đại khái thông thường như “Tứ Thư”, “Ngũ Kinh”, thì dạy các em tụng niệm, dạy các em học thuộc lòng. Thông thường phải tụng từ một trăm đến hai trăm lần, sau khi đã thuộc làu rồi, vẫn phải tụng thêm một trăm đến hai trăm lần nữa. Dụng ý ở đâu? Là tu định, là Giới - Định - Tuệ. Trẻ em nếu không bảo chúng học thuộc lòng sách, thì chúng cũng sẽ suy nghĩ vẩn vơ. Ngày ngày bảo chúng học thuộc lòng sách, thì chúng sẽ không có thời gian để khởi vọng tưởng, tâm chúng được định. Từ bảy tuổi đến mười hai tuổi, tâm được định trong ngần ấy năm, liền khai trí tuệ; tuệ là được sanh ra từ trong định. Đến sau mười ba, mười bốn tuổi, vào Thái Học, trong Thái Học thầy giáo mới giảng giải, những quyển sách mà bạn đã học thuộc lúc trước, bây giờ mới đem ra giảng giải. Đến lúc này vì bạn đã có định, đã khai trí tuệ rồi, nên thầy mới giảng, nếu bạn chưa khai trí tuệ, thì giảng có tác dụng gì? Có giảng cũng không hiểu. Phương pháp giáo dục thời xưa thật tốt, vô cùng đáng tiếc là đến thời Dân Quốc lại đi học theo người nước ngoài, điều này đã làm hại thê thảm cho thế hệ chúng ta, trí tuệ hoàn toàn không còn, định cũng không có, tuệ cũng không có, suốt ngày cứ suy nghĩ vẩn vơ, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước ngày một gia tăng. Thế nên thế hệ xã hội chúng ta hiện nay mới bi thảm như vậy, thế gian đại loạn, toàn là những người không có trí tuệ.