Những Lời Khai Thị Trí Huệ Trong Kinh Kim Cang
Chủ Đề 683: Tông Chỉ Của Vô Trụ, Chính Là Ở Chỗ Dứt Trừ Chấp Trước, Phá Trừ Ngã Tướng
Chủ giảng: Pháp sư Tịnh Không
Thời gian: Tháng 05 năm 1995
Địa điểm: Cư Sĩ Lâm Phật Giáo Singapore
Trích lục từ: Báo cáo nghiên cứu Kim Cang Bát Nhã (Tập 058)
Chuyển ngữ: Tịch Minh
— ❖ —
【Chủ chỉ của bộ kinh này, nằm ở chỗ “vô trụ”. Tông chỉ của vô trụ, lại nằm ở chỗ dứt trừ chấp trước, phá trừ ngã tướng. Mà xả kỷ lợi tha (xả bỏ chính mình để làm lợi ích cho người khác), lại chính là thanh gươm bén, lưỡi búa sắc để dứt trừ chấp trước, phá trừ ngã tướng. Cho nên, về mặt quán tuệ thì phát huy lý “vô trụ” ; về mặt hành trì thì đặc biệt đề cao sự “bố thí”. Hai môn quán và hành, nếu tương ưng thì tất nhiên sẽ thành tựu.】
Kinh văn giảng đến chỗ này là một đoạn lớn , nhằm tổng kết cho chúng ta về “vô trụ bố thí” , đặc biệt là Thế Tôn ở trong bộ kinh này, không ngừng khuyên gắng chúng ta “ưng như thị bố thí” (nên bố thí như thế). Nói đến tông chỉ chủ yếu của bộ kinh này, mọi người đều đã hiểu rõ, tông chỉ chính là “vô trụ” , vô trụ chính là hết thảy đều không chấp trước , chẳng những “hữu” (có) không thể chấp trước, mà “không” cũng chẳng thể chấp trước. Chấp trước “có” thì không thể ra khỏi tam giới , chấp trước “không” thì cũng chẳng thể ra khỏi tam giới , chúng sinh ở cõi trời Tứ Không trong tam giới chính là vì chấp trước “không” mà đến nơi đó để thọ sinh, cho nên đều chẳng thể thoát khỏi tam giới. Vì vậy, Phật ở ngay chỗ này chỉ dạy chúng ta hai bên không và hữu đều chẳng trụ. Tại vì sao cần phải không trụ? Phía trước Phật từng giảng: “Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì chẳng phải là Bồ Tát”. Bồ Tát cũng là chúng sinh, là một chúng sinh đã giác ngộ , khi Đại sư Huyền Trang phiên dịch, Ngài gọi là Giác Hữu Tình, tức là loài chúng sinh hữu tình đã giác ngộ. Điểm không giống với chúng ta chính là chúng ta là bất giác , chúng ta là chúng sinh mê hoặc điên đảo, còn Bồ Tát là chúng sinh giác ngộ. Đổi một câu khác mà nói, tiêu chuẩn của giác và bất giác, nếu y theo “Kinh Kim Cang” mà nói, thì chính là trước tướng (chấp tướng) và không trước tướng. Nếu như bạn chấp trước vào bốn tướng, thì bạn không có giác ngộ, bạn là phàm phu, bạn chẳng phải là Bồ Tát ; nếu như lìa được bốn tướng, bạn thật sự là Bồ Tát. Cho nên trên “Kinh Kim Cang”, tiêu chuẩn của Bồ Tát và phàm phu, nói một cách thiết thực thì chính là tiêu chuẩn của sự giác và bất giác. Chúng ta hãy tự mình thử nghĩ xem, bản thân mình đã có giác ngộ hay chưa? Vẫn cứ còn chấp trước có thị phi nhân ngã, đây là chưa giác ngộ ; vẫn còn chấp trước có lợi hại được mất, đây là hàng phàm phu chân thật, một chút cũng chẳng giả, chưa giác ngộ. Đương nhiên, Phật giảng ở trên kinh thì dễ dàng, nhưng chúng ta làm thì thật sự là chẳng dễ dàng. Hiện tại nếu muốn ly tướng, thì ly tướng phải bắt tay vào từ chỗ nào? Phật ở ngay chỗ này báo cho chúng ta biết: dứt trừ chấp trước, phá trừ ngã tướng. Đem chấp trước, “khiển” (遣) nghĩa là rời khỏi, rời khỏi tất thảy chấp trước , đem ngã tướng phá bỏ đi, vậy thì bạn mới thật sự giác ngộ.
Ly tướng phá ngã, phải bắt tay vào từ đâu? Phật ở chỗ này chỉ dạy cho chúng ta: Xả kỷ lợi tha (xả bỏ chính mình để làm lợi ích cho người khác). Phương pháp này ở trong Đại thừa pháp là một phương pháp vô cùng thù thắng, vi diệu, cao minh hơn Tiểu thừa rất nhiều. Người Tiểu thừa phá ngã chấp, họ chuyên cần đau khổ dụng công , Phật ở trên kinh có nêu ra một ví dụ: Giống như phải chặt đứt dòng thác lũ dài bốn mươi dặm, thác lũ chính là thác nước. Dòng thác nước này lớn chừng nào? Bốn mươi dặm, chúng ta còn chưa từng nhìn thấy , chưa từng thấy dòng thác lớn đến như vậy, mà muốn trong một sát na phải cắt đứt nó, khiến cho dòng nước này không chảy nữa , chư vị thử nghĩ xem điều này khó khăn đến nhường nào, Phật dùng ví dụ này để nói chúng sinh phá ngã chấp là khó khăn giống hệt như vậy đó. Trong Đại thừa pháp thì có biện pháp vi diệu, biện pháp vi diệu này yêu cầu phải thật làm thì mới được , chúng ta không thật làm, thì cái phương pháp này nói ra cũng chẳng có ích lợi gì. Phương pháp này là gì? Đó là bảo chúng ta khởi tâm động niệm đều đừng nghĩ đến chính mình, mà hãy nghĩ đến hết thảy chúng sinh , cứ như vậy thời gian lâu dần, “cái ngã” liền bị quên đi mất ; trong từng niệm từng niệm đều vì lợi ích tất thảy chúng sinh, đều là vì hoằng dương Phật pháp. Hết thảy đều vì Phật pháp mà suy nghĩ, vì chúng sinh mà suy nghĩ, lâu ngày chầy tháng, ngã chấp chẳng cần phá, tự nhiên cũng không còn nữa , phương pháp này rất diệu, vô cùng vi diệu. Phía trước cũng từng nói qua với chư vị rồi, người xưa thường nói, phương pháp này gọi là “đại nhi hóa chi” (mở rộng tâm lượng để chuyển hóa chấp trước) , chính là đem tâm lượng của chúng ta mở rộng ra. Từ xưa đến nay, có rất nhiều vị Bồ Tát tu học Đại thừa, dùng phương pháp này mà thành tựu trong một thời gian rất ngắn, chân thật đạt đến công phu phá trừ bốn tướng. “Xả kỷ lợi tha” (Bỏ mình vì người), bốn chữ này chúng ta phải ghi nhớ thật kỹ, sở dĩ Bồ Tát có thể phá được bốn tướng, trở thành Pháp thân Đại sĩ, thì bí quyết của các Ngài chính là ở bốn chữ này. Phàm phu chúng ta tại vì sao chẳng thể thành được Bồ Tát? Chẳng những không thể trở thành Bồ-tát, mà ngay cả khi tu được chút ít thiện nghiệp nhưng chưa thoát ly tam giới, thì ngay đến cả những quả báo thiện lành trong ba cõi ấy, chúng ta cũng đều chẳng thể đạt được một cách chân chính và viên mãn. Nguyên nhân này chính là nằm ở chỗ bản thân chúng ta đã quá đỗi chấp trước vào chính mình , đem lợi ích của bản thân xem quá nặng , khởi tâm động niệm thảy đều là vì ta, là lợi ích của ta, là lợi lộc của ta , cách làm này chính là mỗi ngày đang tăng trưởng ngã chấp, đang làm kiên cố thêm sự chấp trước đối với cái ngã. Phật Bồ Tát dạy phải phá trừ cái “ngã” ; mà mỗi ngày lại đi tăng trưởng ngã chấp, vậy thì làm sao có thể thành công cho được? Đây là điều mà chúng ta bắt buộc phải biết, phải nhận thức cho thật rõ ràng, sau đó mới biết được Phật chỉ dạy cho chúng ta những phương pháp này là vô cùng thiện xảo. Chúng ta vận dụng những phương pháp này, xác thực là có thể đạt được hiệu quả. Đây chính là thanh gươm bén, lưỡi búa sắc để dứt trừ chấp trước, phá vỡ ngã chấp , “thanh gươm bén lưỡi búa sắc” là một lời ví von, người Trung Quốc chúng ta thường nói “dao sắc chặt đay rối” (khoái đao trảm loạn ma), là dùng cái ví dụ này.