1

Những Lời Khai Thị Trí Huệ Trong Kinh Kim Cang

Chủ Đề 60: “Nhất Thời”, Thập Thế Cổ Kim, Bất Ly Đương Niệm

Chủ giảng: Pháp sư Tịnh Không

Thời gian: Tháng 05 năm 1995

Địa điểm: Cư Sĩ Lâm Phật Giáo Singapore

Trích lục từ: Báo cáo nghiên cứu Kim Cang Bát Nhã (Tập 005)

Chuyển ngữ: Tịch Minh

— ❖ —

【“Nhất thời”, thập thế cổ kim, bất ly đương niệm.】

Những vị đồng tu mới sơ học Phật, khi nhìn thấy hai chữ “Nhất thời” (một thời) ở trên kinh điển, thường khó tránh khỏi có chút nghi hoặc. Trí nhớ của Tôn giả A Nan tốt đến thế, phàm những việc gì đã trải qua một lần thì vĩnh viễn không bao giờ quên, vậy tại sao lúc kết tập kinh điển lại không viết thời gian cho rõ ràng: năm nào, tháng nào, ngày nào, giờ nào, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật đã giảng tại đâu? Ghi chép như thế chẳng phải giúp chúng ta vừa xem qua là rõ ràng minh bạch ngay hay sao? Đằng này lại không ghi chép năm, tháng, ngày, giờ, mà chỉ nói một cách mơ hồ, chung chung là “một thời”, điều này thật khó khiến cho người ta tâm phục khẩu phục. Nào có biết đâu, Tôn giả A Nan dùng hai chữ này là có dụng ý riêng, đây chính là điều nhà Phật thường nói là “có mật ý” ở trong đó.

Thời gian, nói thực ra chỉ là một khái niệm trừu tượng. Đặc biệt là vào thời đại Đức Thế Tôn còn tại thế, Ấn Độ vẫn chưa thống nhất, tình trạng cũng giống như thời Xuân Thu Chiến Quốc ở Trung Quốc vậy, có rất nhiều quốc gia nhỏ. Trung Quốc thì tương đối khá hơn, vào thời Hạ, Thương, Chu, tuy rằng mỗi nước nhỏ đều độc lập, nhưng vẫn có một vị minh chủ, có một nước lớn được đại chúng tôn kính, đều sử dụng lịch pháp của nước lớn đó, cho nên niên kỷ trong lịch sử Trung Quốc tương đối dễ xử lý. Ấn Độ thì không có tình trạng này, không có một vị lãnh tụ nào nhận được sự tôn kính của đại chúng trên trường quốc tế, do đó mỗi nước nhỏ đều có lịch pháp riêng của mình, lịch pháp không thống nhất. Mà Đức Thế Tôn khi ấy giảng kinh thuyết pháp, có thể nói là chu du liệt quốc, lịch pháp ở mỗi nơi đều chẳng giống nhau, cho dù Tôn giả A Nan có ghi chép ra, chúng ta cũng không có cách nào khảo chứng, hết cách để khảo chứng.

Giống như lịch pháp mà thế gian chúng ta đang dùng hiện nay, chúng ta dùng dương lịch, đại khái là rất nhiều quốc gia trên thế giới đều đang áp dụng. Ở Trung Quốc thì có nông lịch (âm lịch), ở phía Tây châu Á, các nước Ả Rập lại có lịch Hồi giáo, lịch pháp đều không giống nhau, ngày tháng cũng chẳng tương đồng. Bây giờ nếu chúng ta muốn ghi chép lịch pháp, thì phải ghi theo loại lịch nào? Tháng mấy, ngày mấy? Chẳng những là phiền phức, mà người đời sau thực sự cũng không cách nào khảo chứng được. Ý nghĩa của chữ “Nhất thời” (một thời) này, đã lược bớt đi những phiền phức đó. “Một thời” mới là chân thật; nói cho quý vị năm, tháng, ngày, giờ, đó là giả, đó chẳng phải là thật, “một thời” mới là thật.

“Nhất thời” chính là cái thời của Nhất tâm, cái thời của Nhất niệm. Nếu quý vị có thể đạt đến Nhất tâm, thì chẳng những không gian được siêu vượt, mà thời gian cũng siêu vượt luôn. Từ đó có thể biết, “Thời phân” và “Phương phân”, trong «Bách Pháp Minh Môn Luận» chúng ta đã học: Phương phân chính là không gian, Thời phân chính là thời gian, những thứ này thuộc về “Bất Tương Ứng Hành Pháp”. Khi phân loại thì xếp chúng vào loại Bất Tương Ứng Hành Pháp. Bất Tương Ứng Hành Pháp nghĩa là: Nó không phải là Tâm pháp, nó cũng không phải là Sắc pháp; đối với Tâm và Sắc đều không tương ứng, thế nhưng nó quả thực là một loại khái niệm trừu tượng được sinh ra từ trong Tâm pháp và Sắc pháp. Nó không có thật thể, chỉ là khái niệm trừu tượng. Thời gian và không gian đều là khái niệm trừu tượng, đều chẳng phải sự thật. Sự thật là Nhất Chân Pháp Giới, “Một” mới là thật, “Hai” chính là giả. Chư vị nhất định phải ghi nhớ, “Một” chính là chân thật. Cho nên khi đạt đến Nhất tâm, đạt đến Nhất niệm, thì thời gian và không gian thảy đều đột phá, chân tướng của vũ trụ nhân sinh quý vị sẽ hoàn toàn thấu suốt; lúc đó chân tướng đại bạch, hoàn toàn minh liễu.

“Thập thế cổ kim”, đây là nói về thời gian. Thời gian thông thường nói có ba đời (tam thế): Quá khứ, Hiện tại, Vị lai. Trong quá khứ lại có quá khứ, hiện tại, vị lai; trong hiện tại lại có quá khứ, hiện tại, vị lai; trong vị lai cũng có quá khứ, hiện tại, vị lai; như vậy biến thành chín đời (cửu thế), cộng thêm một đời làm căn bản nữa gọi là mười đời (thập thế). “Thập thế cổ kim, bất ly đương niệm”, mười đời xưa nay không rời ngay một niệm hiện tiền. Hễ có phân biệt chấp trước thì liền biến thành ba đời, biến thành mười đời. Nếu lìa tất cả phân biệt, vọng tưởng, thì chính là Nhất Chân, Nhất Chân là cảnh giới của chư Phật Bồ Tát.