Những Lời Khai Thị Trí Huệ Trong Kinh Kim Cang
Chủ Đề 521: Tính Đến Nay Là Năm 3022
Chủ giảng: Pháp sư Tịnh Không
Thời gian: Tháng 05 năm 1995
Địa điểm: Cư Sĩ Lâm Phật Giáo Singapore
Trích lục từ: Báo cáo nghiên cứu Kim Cang Bát Nhã (Tập 045)
Chuyển ngữ: Tịch Minh
— ❖ —
【Tính đến nay là năm 3022】
Từ khi Đức Phật diệt độ đến năm nay, con số 3022 năm là theo cách nói của Trung Quốc chúng ta, không giống với cách tính của người nước ngoài. Người nước ngoài cho rằng tính đến nay đã là hơn 2500 năm, so với cách tính của Trung Quốc chúng ta thì chênh lệch 600 năm. Rốt cuộc cách tính nào là thật? Cách tính nào là giả? Việc này nếu quý vị không hỏi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, thì chẳng ai có thể xác định được. Cho nên, từ lúc Phật diệt độ đến nay là bao nhiêu năm, hiện tại có rất nhiều cách nói khác nhau. Theo lệ thường ở Trung Quốc, Lão Hòa thượng Hư Vân dùng cách tính này, Lão Pháp sư Ấn Quang cũng dùng cách tính này. Lão Pháp sư Ấn Quang khi viết thư pháp lưu tặng người khác, phần ghi năm Phật lịch ở phía sau cũng đều dùng cách tính này, đều dùng con số này. Cách tính này, trong các nghi thức khóa tụng của Trung Quốc chúng ta, cách nói đó tương ứng với niên đại này. Phật đản sanh vào năm Giáp Dần đời vua Chu Chiêu Vương, Phật nhập diệt vào năm Nhâm Dần đời vua Chu Mục Vương, cho nên dùng cách tính này thì niên đại mới ăn khớp. Trong các bài tán tụng của chúng ta vẫn còn ghi những dòng chữ như vậy (*), nhưng điều đó cũng không quá quan trọng. Dẫu là theo cách tính của người nước ngoài là 2500 năm, thì cũng đã là cái năm trăm năm thứ năm rồi, đều phù hợp cả.
Về thời kỳ đầu của mạt pháp. Pháp vận của Phật là chánh pháp một ngàn năm, tượng pháp một ngàn năm, mạt pháp một vạn năm. Thời kỳ mạt pháp một vạn năm, chúng ta cũng đã trải qua hơn năm trăm năm rồi, dẫu tính theo cách của người nước ngoài thì cũng đã qua hơn năm trăm năm, hiện tại là cái năm trăm năm thứ sáu ; nếu chiếu theo cách tính của Trung Quốc, thì hiện tại đã là cái năm trăm năm thứ bảy, cách Phật ngày càng xa xôi rồi.
–-------
Chú thích:
(*): Ở đây, Lão Hòa thượng đề cập đến các quyển Khóa tụng bản (課誦本), Tán tụng (讚頌), hay phần tiểu sử chư Phật - chư Tổ của Trung Hoa. Trong đó thường có những dòng chữ Hán ghi chép về mốc thời gian như sau:
● Về năm đản sanh: “Phật đản ư Chu Chiêu Vương nhị thập lục niên, tuế thứ Giáp Dần...” (佛誕於周昭王二十六年,歲次甲寅). Nghĩa là: Đức Phật đản sanh vào năm thứ 26 đời vua Chu Chiêu Vương, năm Giáp Dần.
● Về năm nhập diệt: “Phật diệt ư Chu Mục Vương ngũ thập nhị niên, tuế thứ Nhâm Dần...” (佛滅於周穆王五十二年,歲次壬寅). Nghĩa là: Đức Phật nhập diệt vào năm thứ 52 đời vua Chu Mục Vương, năm Nhâm Dần.
Do chư Tổ ngày xưa khi soạn các nghi thức tụng niệm, cử hành lễ Phật Đản (Tắm Phật) hoặc lễ Phật nhập Niết Bàn, đều dựa vào cột mốc thời gian này để tính toán. Nên khi đại chúng xướng lễ hay tụng đọc những bài tán, văn sớ, lời dẫn nhập, đều đọc nguyên văn những dòng chữ ghi rõ “Chu Chiêu Vương”, “Chu Mục Vương”, “Giáp Dần”, “Nhâm Dần” lên.