1

Những Lời Khai Thị Trí Huệ Trong Kinh Kim Cang

Chủ Đề 38: Phát Tâm Đại Từ Bi Chính Là Khai Mở Trí Tuệ Bát Nhã

Chủ giảng: Pháp sư Tịnh Không

Thời gian: Tháng 05 năm 1995

Địa điểm: Cư Sĩ Lâm Phật Giáo Singapore

Trích lục từ: Báo cáo nghiên cứu Kim Cang Bát Nhã (Tập 003)

Chuyển ngữ: Tịch Minh

— ❖ —

【Nên biết, phát tâm đại từ bi chính là khai mở trí tuệ này. Y giáo phát tâm thì tâm phân biệt đã dung hòa, ngã kiến tiêu dần. Cho nên Phật dạy phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, diệt độ tất cả chúng sanh nhập Vô Dư Niết Bàn, mà thực không có chúng sanh nào được diệt độ. Toàn bộ kinh này chẳng ngoài việc phát huy nghĩa ấy. Lại quên cả cái tâm Bồ Đề đó, khiến cho hành giả thẳng ngay nơi “nhất niệm bất sanh” mà khế nhập.】

Đây chính là điều tôi vừa giảng giải, là phương pháp giúp chúng ta phá chướng, đoạn hoặc ngay từ căn bản. Phương pháp này của Phật vô cùng thiện xảo, vi diệu đến tột cùng. Điều quan trọng là phương pháp này chúng ta thực sự có thể làm được. Nếu phương pháp tuy hay mà chúng ta không làm được, thì cũng bằng không, Phật nói cũng như chưa nói. Nhưng ở đây, chúng ta hoàn toàn có thể thực hành được.

Bắt đầu làm từ đâu? Bắt đầu từ việc phát tâm Đại Từ Bi. Trong nhà Phật thường nói: “Từ bi vi bổn, phương tiện vi môn” (Lấy từ bi làm gốc, lấy phương tiện làm cửa). Phật dạy chúng ta phát tâm Đại Từ Bi. Chữ “Đại” (lớn) thêm vào trên chữ Từ Bi nghĩa là gì? Đó là lòng từ bi thanh tịnh, bình đẳng, như vậy mới gọi là Đại Từ Đại Bi. Nếu từ bi mà có điều kiện thì không thể gọi là Đại Từ Bi được, vì có điều kiện là chưa thanh tịnh, chưa bình đẳng. Người này tôi thích thì tôi từ bi với họ, người kia tôi ghét thì tôi không từ bi, đó không phải là Đại Từ Bi.

Trong Phật pháp, tâm từ bi được chia làm bốn loại:

1. Ái Kiến Từ Bi (Ái Duyên Từ): Đây là loại từ bi mà chúng sanh thường có. Như vừa nói, tôi thích ai thì tôi thương người đó, không thích thì không thương. Đây gọi là Ái duyên từ bi, hoàn toàn dựa trên tình cảm.

2. Chúng Sanh Duyên Từ Bi: Cao hơn một bậc là Chúng sanh duyên từ bi. Tôi yêu thương người nhà của tôi, rồi tôi mở rộng tình thương đó ra, gọi là “bác ái”. Tôi cũng có thể yêu thương, bảo bọc tất cả chúng sanh. Phạm vi của loại này rộng lớn hơn Ái duyên từ bi rất nhiều.

3. Pháp Duyên Từ Bi: Đây là lòng từ bi của Bồ Tát. Bồ Tát nương theo đạo lý Phật giảng, các Ngài thấu hiểu và dùng tâm bình đẳng để quán sát và giúp đỡ tất cả chúng sanh. Nghe Phật pháp rồi khai ngộ, Phật dạy làm sao thì tôi làm y như vậy, y giáo phụng hành. Đây gọi là Pháp duyên từ bi.

4. Đại Từ Đại Bi (Vô Duyên Từ): Đến quả địa của Như Lai gọi là Đại Từ Đại Bi. Đây là lòng từ bi “vô duyên” (không điều kiện). Bồ Tát hành Pháp duyên từ bi vẫn còn điều kiện, đó là vì nghe được Phật pháp, muốn tuân theo lời thầy dạy mà y giáo phụng hành, đó vẫn là có điều kiện. Phải đạt đến mức không điều kiện, tâm hoàn toàn thanh tịnh, bình đẳng, không phân biệt, không chấp trước.

Đức Thế Tôn ở đây dạy chúng ta phát cái tâm này, đó mới gọi là tu từ căn bản. Vì sao? Vì Đại từ bi không điều kiện thì tương ưng với tâm thanh tịnh, tương ưng với Chân như Bổn tánh. Hạ thủ công phu ngay chỗ này, phương pháp thật sự cao minh đến tột cùng! Trí tuệ Bát Nhã cũng từ đây mà sanh, từ trong tâm Đại từ bi mà sanh ra Bát Nhã trí tuệ.

“Y giáo phát tâm”: Đức Thế Tôn trong kinh này dạy chúng ta cách phát tâm như thế nào, chúng ta hãy cứ thế mà học cho tốt. Nếu quý vị thật sự thấu hiểu, thật sự học được rồi, thì tâm phân biệt sẽ không còn. Phật dạy chúng ta “lìa tất cả các tướng”, ngã kiến (cái thấy về cái tôi) sẽ không còn; không cần cố ý lìa bốn tướng (Ngã, Nhân, Chúng sanh, Thọ giả) mà tự nhiên chúng cũng biến mất.

Nếu cứ gượng ép bắt buộc phải lìa tướng thì rất khó, không dễ làm. Nhưng dùng phương pháp này thì “không lìa mà tự hết”, thật vi diệu! Những phương pháp kinh dạy đều là bảo chúng ta phát tâm giống như Phật. Phật phát tâm gì? Ngay phần mở đầu kinh, Phật đã nói Ngài phát tâm “diệt độ tất cả chúng sanh nhập Vô Dư Niết Bàn”.

“Diệt” là diệt vọng tưởng, diệt phiền não, diệt chấp trước. Tất cả chúng sanh đều có vọng tưởng, phiền não, phân biệt, chấp trước; Phật giúp chúng sanh diệt trừ sạch sành sanh những thứ này, đó là phá chướng đoạn hoặc. Giúp tất cả chúng sanh chứng nhập Vô Dư Niết Bàn. “Niết Bàn” là bất sanh bất diệt, “Vô Dư” là cứu cánh viên mãn.