Những Lời Khai Thị Trí Huệ Trong Kinh Kim Cang
Chủ Đề 352: Người Giảng Kinh Là Thay Phật Tuyên Dương, Liền Đồng Như Phật Thật Đang Ở Đây. Nói Đại Pháp Này, Nối Dòng Phật Chủng, Chính Là Trụ Trì Tam Bảo. Cho Nên Nói: Như Tháp Miếu Của Phật, Thảy Đều Nên Cúng Dường
Chủ giảng: Pháp sư Tịnh Không
Thời gian: Tháng 05 năm 1995
Địa điểm: Cư Sĩ Lâm Phật Giáo Singapore
Trích lục từ: Báo cáo nghiên cứu Kim Cang Bát Nhã (Tập 028)
Chuyển ngữ: Tịch Minh
— ❖ —
【Người giảng kinh là thay Phật tuyên dương, liền đồng như Phật thật đang ở đây. Nói đại pháp này, nối dòng Phật chủng, chính là trụ trì Tam Bảo. Cho nên nói: Như tháp miếu của Phật, thảy đều nên cúng dường.】
Chư Phật Như Lai, Bồ Tát, Thanh Văn, không ai là không hoằng pháp độ sinh, đây là sự việc lớn lao duy nhất của Bồ Tát. Phạm vi hoằng pháp lợi sinh là sâu rộng vô hạn, điều này trong kinh điển Đại Thừa, đặc biệt là kinh “Hoa Nghiêm”, đã hiện bày ra một cách cụ thể cho chúng ta thấy. Và trong vô số các phương thức khác nhau, dùng ngôn từ để diễn thuyết có thể nói là phương tiện thuận lợi nhất. Thế nhưng quý vị cần phải biết, ngoài việc dùng ngôn từ diễn thuyết ra, các phương pháp khác cũng cực kỳ nhiều, chúng ta xem năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài Đồng Tử thì có thể hiểu rõ. Do đó, bất luận là đệ tử xuất gia hay đệ tử tại gia, phát tâm giảng kinh thuyết pháp cho đại chúng thì đều thuộc về việc thay Phật tuyên dương. Có một số đồng tu thường hay hiểu lầm, cho rằng giảng kinh thuyết pháp là việc của pháp sư xuất gia, không phải là việc của cư sĩ tại gia; quan niệm này là sai lầm, cư sĩ tại gia cũng giảng kinh thuyết pháp y như vậy. Đã bước lên bục giảng thì chính là thay Phật tuyên dương, liền xứng đáng tiếp nhận sự lễ kính của đại chúng, đây là chánh tri chánh kiến. Năm xưa khi Thế Tôn còn tại thế, cư sĩ Duy Ma cũng thường hay giảng kinh thuyết pháp. Các đệ tử xuất gia của Phật, như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên v.v..., cũng thường xuyên nghe trưởng giả Duy Ma thuyết pháp; điều này là được Thế Tôn cho phép, đồng ý. Người xuất gia nghe người tại gia giảng kinh thuyết pháp, cũng phải theo đúng quy củ thông thường, giống như tôn kính Phật Đà vậy, đảnh lễ ba lạy, đi nhiễu bên phải ba vòng; chúng ta thấy trong kinh điển, hoàn toàn không có tâm khinh mạn. Không có nói rằng tôi xuất gia rồi, ông là cư sĩ; không có cái tâm này, không có sự phân biệt chấp trước như vậy. Mà thị hiện ra sự bình đẳng, tại gia và xuất gia giảng pháp là hoàn toàn bình đẳng, đây cũng chính là điều Thế Tôn đã nói cho chúng ta trong bộ kinh này: “Pháp này bình đẳng, không có cao thấp”; đệ tử của Như Lai đã làm ra tấm gương cho chúng ta xem.
Thời xưa, quý vị đều biết đại sư Huyền Trang đời Đường, ngài là vị đại đức xuất gia của Trung Quốc chúng ta sang Ấn Độ du học có thành tựu lớn nhất. Khi ấy ở Ấn Độ, ngài thân cận hai vị thầy: luận sư Giới Hiền là người xuất gia, cư sĩ Thắng Quân là người tại gia; hai vị thầy, một tăng một tục. Ngài Huyền Trang đều giữ lễ của bậc đệ tử, trước nay chưa từng phân biệt tôi là người xuất gia, ngài là người tại gia. Người xuất gia không lạy người tại gia, như vậy là phân biệt chấp trước rồi, là pháp có cao có thấp, như vậy là không bình đẳng. Sự việc này, đặc biệt là đến thời cận đại, sự phân biệt chấp trước và hiểu lầm này rất lớn. Vào đầu thời Dân Quốc, cư sĩ Âu Dương Cánh Vô có lập một Phật học viện ở Nam Kinh, thời gian tuy không dài, nhưng sức ảnh hưởng rất lớn; Phật học viện của ông tên là Chi Na Nội Học Viện. Ông có viết một cuốn sách nhỏ tựa là “Chi Na Nội Học Viện Viện Huấn”, trong đó đem những sự việc này nói rất rõ ràng, rất minh bạch, thuyết minh rằng Phật pháp là sư đạo. Đã là sư đạo thì nhất định phải tuân thủ tôn sư trọng đạo; tôn sư là vì trọng đạo, bởi vì trọng đạo nên mới tôn sư. Thầy thì có người tại gia, có người xuất gia; bậc làm thầy là lớn nhất.
Dù chúng ta là người xuất gia, nhưng vị cư sĩ tại gia này là thầy của chúng ta, là người trực tiếp truyền đạo cho chúng ta, thì vị ấy chính là Hòa thượng của chúng ta; điểm này quý vị cũng cần phải hiểu rõ. Danh xưng Hòa thượng, có nghĩa là người trực tiếp truyền pháp cho tôi, trực tiếp giáo đạo tôi, thì người đó chính là Hòa thượng của tôi. Hòa thượng không nhất định là tại gia hay xuất gia, điều này quý vị cần phải biết. Trong cửa Phật, danh xưng Pháp sư cũng không nhất định là tại gia hay xuất gia, chỉ cần là người hoằng pháp lợi sinh, thì đều được xưng là Pháp sư. Thế nhưng tập tục thế gian hiện nay đều gọi người xuất gia là Pháp sư, rất hiếm khi gọi người tại gia. Hòa thượng, cũng là tại gia hay xuất gia đều có thể xưng hô như vậy. Pháp sư, Hòa thượng, tại gia hay xuất gia đều có thể gọi. Bạn là một cư sĩ tại gia, bạn dạy vài người học trò, thì mấy người học trò đó gọi bạn là Hòa thượng, bạn là Hòa thượng của họ. Nếu bạn là cư sĩ tại gia, mà bạn còn dạy cho vài người xuất gia, thì mấy đệ tử xuất gia đó cũng xưng bạn là Hòa thượng. Tuy nhiên hiện nay theo thói quen thì không còn nữa, người tại gia thì chúng ta đều gọi là Thầy (Lão sư), không gọi là Hòa thượng; kỳ thực thân phận của người đó đích thực là Hòa thượng. Chỉ có Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Sa Di, Sa Di Ni, thì người tại gia không thể xưng, đây dứt khoát là thân phận xuất gia. Cho nên nói Hòa thượng, nói Pháp sư, chưa hẳn là thân phận xuất gia. Đây gọi là sư đạo, là nhận được sự cung kính của trời người; chỗ này đang nói đến thiên nhân cõi Đao Lợi.