Những Lời Khai Thị Trí Huệ Trong Kinh Kim Cang
Chủ Đề 335: Thế Tôn Nhiều Kiếp Siêng Cần Tu Sáu Độ Vạn Hạnh, Phước Huệ Trang Nghiêm, Công Hạnh Viên Mãn, Mới Có Thể Chứng Đắc, Đó Gọi Là Vô Biên Tướng Hảo Thân Vậy
Chủ giảng: Pháp sư Tịnh Không
Thời gian: Tháng 05 năm 1995
Địa điểm: Cư Sĩ Lâm Phật Giáo Singapore
Trích lục từ: Báo cáo nghiên cứu Kim Cang Bát Nhã (Tập 027)
Chuyển ngữ: Tịch Minh
— ❖ —
【Thế Tôn đa kiếp cần tu lục độ vạn hạnh, phước huệ song nghiêm, công hạnh viên mãn, phương năng chứng đắc, sở vị vô biên tướng hảo thân dã.】 (Dịch nghĩa: Thế Tôn nhiều kiếp siêng cần tu sáu độ vạn hạnh, phước huệ trang nghiêm, công hạnh viên mãn, mới có thể chứng đắc, đó gọi là Vô Biên Tướng Hảo Thân vậy.)
Chúng ta thường thấy trong các kinh điển thông thường có nói đến cái gọi là ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, thân vàng trượng sáu. Đây là nói về Ứng thân thị hiện của Đức Thế Tôn ở thế gian này của chúng ta. Ba ngàn năm trước, Ngài xuất hiện tại Bắc Ấn Độ, vì chúng ta mà giảng kinh thuyết pháp suốt bốn mươi chín năm, thị hiện tuổi thọ thế gian là tám mươi tuổi. Thế Tôn tám mươi tuổi viên tịch, đây thuộc về Ứng hóa thân. Còn Báo thân tự thọ dụng của Phật thì như trong kinh Hoa Nghiêm đã nói: “Phật có vô lượng tướng, tướng có vô lượng vẻ đẹp”, chứ không chỉ dừng lại ở ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, mà là tướng hảo vô lượng vô biên.
Cách nói này là lời tán thán hay là sự thật? Điểm này các đồng tu học Phật chúng ta cần phải liễu giải. Trong cửa Phật không có nói dối. Đức Thế Tôn trong kinh này đã bảo với chúng ta rằng Như Lai là “chân ngữ giả, thật ngữ giả, như ngữ giả”. Trong năm loại lời nói chân thật ấy thì lấy “như ngữ” làm chủ. “Như” là hoàn toàn tương ưng với sự thật, gọi là không tăng không giảm, lời nói ra quyết định tương xứng với sự thật. Điều này chứng minh rằng, vô lượng tướng hảo là sự thật, đây chẳng phải là lời tán thán, cũng quyết định không hề phóng đại.
Từ đâu mà có nhiều tướng hảo đến như vậy? Phàm phu chúng ta nghe qua quả thật là không thể nghĩ bàn, thậm chí người sơ học căn bản là không cách nào chấp nhận nổi. Đây là do chúng ta hoàn toàn không thấu hiểu được chân tướng sự thật của bậc Đại Giác Ngộ viên mãn rốt ráo. Chúng ta biết rằng, Báo thân tự thọ dụng là sự hiển thị viên mãn của Tánh đức; công đức của Tự tánh là vô lượng vô biên, cho nên tướng lành hiển thị ra tự nhiên cũng là vô lượng vô biên. Đối với kinh luận Đại thừa liễu nghĩa, nếu có thể thâm nhập một chút, có thể lĩnh hội một chút, thì đối với việc này tự nhiên sẽ không còn nghi hoặc.
Vì thế, khi Phật còn ở địa vị Nhân địa, tức là trên địa vị Bồ Tát, cái Đại giác viên mãn ấy lúc ban sơ cũng phảng phất giống như chúng ta hiện nay. Tuy trong Tánh đức vốn dĩ đầy đủ, nhưng Tánh đức ấy từ vô lượng kiếp đến nay đã bị vọng tưởng, phân biệt, chấp trước và phiền não che lấp, nên Tánh đức không thể hiện tiền, nhất định phải nương vào Tu đức để khai phát. Do đó mới nói “nhiều kiếp siêng cần tu sáu độ”. Câu này chính là nói về Tu đức. Ở địa vị Nhân thì Tu đức là vô cùng quan trọng.
Tu đức chính là điều đã nói ở trước: “Nhi sanh kỳ tâm” (Mà sanh tâm ấy). Tuy sanh tâm nhưng phải “Vô trụ” (Không trụ), thì mới tương ưng với Tánh đức. Nếu sanh tâm mà “Hữu trụ” (Có trụ), thì không tương ưng với Tánh đức; dẫu cho siêng cần tu nhiều kiếp, vẫn như cũ không thể kiến tánh.
Vì sao không thể kiến tánh? Bởi vì người ấy không thể đoạn phiền não, không thể phá vọng tưởng. Vọng tưởng chính là vô minh. Người ấy có Phiền não chướng, có Sở tri chướng, như vậy thì không thể kiến tánh, không thể vượt thoát mười pháp giới. Nếu Phiền não chướng mà vẫn chưa thể phá trừ, nói cách khác, người ấy căn bản không thể vượt thoát sáu nẻo luân hồi. Đây là điều chúng ta cần phải nhận thức cho rõ ràng.
Trong đời này, dẫu cho chúng ta không thể phá vô minh, thì cũng phải tìm cách liễu sanh tử, xuất Tam giới, như vậy mới được coi là có thành tựu. Nếu không thể vượt thoát sáu nẻo luân hồi, chúng ta cần phải suy ngẫm lại. Giống như lời Đức Thế Tôn dạy trong kinh Kim Cang, hay như trong kinh Vô Lượng Thọ đã giảng, mọi người đều đọc rất thuộc, những lời Phật nói là nói cho mỗi người chúng ta, là nói cho chính bản thân mình. Việc học Phật tu hành của chúng ta không chỉ là ở đời này, mà trong quá khứ đời đời kiếp kiếp vô lượng kiếp đến nay, cũng đã từng “nhiều kiếp siêng cần tu sáu độ vạn hạnh”, tại sao lại rơi vào nông nỗi như ngày hôm nay? Đây là điều chúng ta nên phản tỉnh, nên giác ngộ.