Những Lời Khai Thị Trí Huệ Trong Kinh Kim Cang
Chủ Đề 275: Cho Nên Phật Thuyết Pháp, Là Từ Trong Chân Như Bổn Tánh, Tự Tại Tuôn Trào Ra
Chủ giảng: Pháp sư Tịnh Không
Thời gian: Tháng 05 năm 1995
Địa điểm: Cư Sĩ Lâm Phật Giáo Singapore
Trích lục từ: Báo cáo nghiên cứu Kim Cang Bát Nhã (Tập 021)
Chuyển ngữ: Tịch Minh
— ❖ —
【Cho nên Phật thuyết pháp, là từ trong Chân như Bổn tánh, tự tại tuôn trào ra.】
Điểm này chúng ta cần phải nhận thức cho thật rõ ràng. Tất cả các pháp do Phật nói ra, đều là từ trong cảnh giới của chính Ngài lưu lộ ra, nói cách khác, là từ Nhất Chân Pháp Giới, từ trong Chân như Bổn tánh mà tuôn chảy ra. Chân như Bổn tánh là chân, chẳng phải là giả. Ngôn ngữ từ Chân như Bổn tánh lưu xuất ra là chân ngôn, văn tự thì gọi là kinh điển, chẳng phải là hư dối.
Cho nên, những đạo lý, phương pháp và cảnh giới được giảng trong kinh điển, xác thực là vượt thoát thời gian và không gian; bất luận ở thời đại nào, bất luận ở khu vực nào, cũng đều chính xác, đều thích hợp. Đây chính là siêu việt thời gian và không gian, hiển lộ tính chân thật của nó.
Chúng ta muốn giải được ý nghĩa Phật nói, đương nhiên là khó rồi. Khó ở chỗ nào? Ở chỗ chúng ta chưa kiến tánh. Kinh Phật là từ tự tánh lưu xuất ra, chúng ta chưa kiến tánh thì làm sao có thể hiểu được đạo lý trong kinh điển? Vì thế, trong các bộ đại kinh đại luận như Kinh Hoa Nghiêm, Đại Trí Độ Luận đã nói rất rõ ràng: “Phật pháp vô nhân thuyết, tuy trí mạc năng giải” (Phật pháp nếu không có người thuyết, tuy có trí cũng chẳng thể giải).
Kinh giáo của Phật nhất định phải có người giải nói cho chúng ta, nếu như không có người giải nói, thì người thông minh trí tuệ bậc nhất thế gian cũng không cách nào lý giải được. Nguyên nhân tại đâu? Tại vì người thế gian dùng tâm phân biệt, dùng tâm chấp trước; hễ có phân biệt chấp trước thì đó là phàm phu. Dùng tâm phân biệt chấp trước để giải nghĩa thú của Phật thì “vô hữu thị xứ” (chẳng thể nào đúng được), cho nên cần phải có người nói.
Người nào nói? Là người tu hành chứng quả. Vì vậy vào thời xưa, những người giảng kinh thuyết pháp, những người chú giải kinh luận đều là người tu hành chứng quả, còn việc phiên dịch kinh điển thì càng không cần phải bàn nữa. Họ được gọi là người tái lai, họ làm được, họ sẽ không làm sai. Tuy sự kiến tánh của họ chưa viên mãn, nhưng họ thật sự đã kiến tánh.
Phật là tâm tánh viên mãn, ví như mặt trăng tròn đầy đêm rằm mười lăm; Bồ Tát tuy chưa phải là trăng tròn, nhưng cũng là trăng mười một, mười hai, đã gần với viên mãn rồi. Cho dù địa vị có thấp hơn một chút, như trăng mùng bốn, mùng năm, thì ánh trăng lưỡi liềm đó cũng là mặt trăng thật, không phải giả, ánh sáng đó là thật, vị ấy có năng lực giải nói cho chúng ta. Điều này chứng tỏ những vị ấy dùng là dùng chân tâm. Chân tâm, ý nghĩa này phía trước đã từng nói qua.
Người chuyển được vọng tâm thành chân tâm, chuyển vọng thành chân, chuyển thức thành trí, chuyển tám thức thành bốn trí, hạng người như vậy mới được! Vào thời xưa, hạng người như vậy thật sự có. Chẳng những có mà còn không phải ít. Chúng ta xem trong bộ Sử Truyện của Đại Tạng Kinh thấy rất nhiều, chư Tổ sư Đại đức trong mỗi một tông phái đều là người tái lai. Cận đại cũng có không ít những vị Đại pháp sư, thân phận không tiết lộ. Số ít những vị thân phận bị lộ ra mà chúng ta biết, ví như Đại sư Ấn Quang, hiện nay mọi người đều biết Ngài là Đại Thế Chí Bồ Tát ở Thế giới Tây Phương Cực Lạc hóa thân. Lão pháp sư Đế Nhàn, Lão hòa thượng Hư Vân, rốt cuộc là thân phận gì? Không có tiết lộ nên chúng ta không biết, nhưng chắc chắn không phải người thường. Nếu được những người như vậy đến nói cho chúng ta nghe, thì nhất định không sai.
Vậy hiện tại không có ai nói cho chúng ta nghe, phải làm sao? Chúng ta tìm không được thiện tri thức, không gặp được thiện tri thức, mà chúng ta muốn cầu giải nghĩa kinh, phải làm thế nào? Có một phương pháp: Hãy chí thành cung kính mà đọc tụng để cầu cảm ứng. Đọc tụng lâu ngày sẽ đắc định, tâm sẽ thanh tịnh, tâm sẽ định, định đến một trình độ tương đối thì sẽ khai trí tuệ. Cho nên “Nhân Giới sanh Định, nhân Định khai Tuệ”. Trí tuệ hễ khai, thì những kinh luận này tự nhiên sẽ thông đạt.
Những sự việc này thời cận đại cũng có ví dụ, quý vị xem cuốn Ảnh Trần Hồi Ức Lục của Pháp sư Đàm Hư. Cuốn sách này là tự truyện của Lão pháp sư Đàm Hư, Ngài tự kể lại quá trình tu học cả đời của mình, do học trò của Ngài là Pháp sư Đại Quang ghi chép lại, cho nên đây chính là tự truyện của Đàm Lão. Trong tự truyện có một thiên ghi chép lại: Năm xưa tại Chiết Giang, trong đạo tràng của các Ngài có một vị sư Hương đăng. Sư Hương đăng chuyên lo việc thắp hương, thắp nến, châm dầu đèn trên chánh điện, chuyên quản việc này. Vị sư Hương đăng này rất thật thà, rất đôn hậu. Trong chùa thì người đông, trình độ không đồng đều, có vài người thấy ông thật thà bèn trêu chọc, bảo ông rằng: “Này thầy Hương đăng, mấy cây nến của thầy để ở đó lâu quá, bị mốc rồi”. Ông hỏi: “Vậy phải làm sao?”. Họ bảo: “Mang ra ngoài phơi nắng đi!”.