Những Lời Khai Thị Trí Huệ Trong Kinh Kim Cang
Chủ Đề 205: Nhân Quả Rõ Ràng Nghiêm Mật, Mà Chẳng Ngại Đồng Một Tánh Không
Chủ giảng: Pháp sư Tịnh Không
Thời gian: Tháng 05 năm 1995
Địa điểm: Cư Sĩ Lâm Phật Giáo Singapore
Trích lục từ: Báo cáo nghiên cứu Kim Cang Bát Nhã (Tập 014)
Chuyển ngữ: Tịch Minh
— ❖ —
【Nhân quả sâm nhiên, nhi bất ngại đồng nhất tánh không.】
(Tạm dịch: Nhân quả rõ ràng nghiêm mật, mà chẳng ngại đồng một tánh không).
Tại sao lại có mười pháp giới khác nhau? Trong đó có nhân có quả, nhân duyên quả báo rõ ràng rành mạch, một mảy may cũng không sai loạn. Nhân thiện được quả thiện, nhân ác chịu báo ác, đây là chân lý, là định luật.
Nói một cách cạn cợt dễ hiểu, nhân của việc thành Phật là Tâm Bình Đẳng. Tâm ấy bình đẳng như thế nào? Không có phân biệt thì bình đẳng. Nếu trong tâm còn có phân biệt, thì làm sao bình đẳng được? Bình đẳng là Phật tâm, tức là Tâm Bình Đẳng là nhân, thành Phật là quả.
Tâm Lục độ là Bồ-tát. Bồ-tát, chúng ta thấy trong Kinh Kim Cang, kinh này chính là dạy cho Bồ-tát. Bồ-tát “không trụ vào tướng mà hành bố thí”. Không trụ vào tướng thì sự chấp trước không còn nữa. Cái “không trụ” đó chủ yếu là nói về chấp trước; chấp trước đã hết, không chấp trước nữa mà “sanh tâm ấy” (nhi sanh kỳ tâm). Khi sanh tâm thì khó tránh khỏi vẫn còn phân biệt, nhưng sự phân biệt của các Ngài rất mỏng, rất nhạt. Không giống như chúng ta vạch giới hạn rõ ràng, nghiêm trọng như thế này. Các Ngài không có, tâm phân biệt rất nhẹ, rất nhạt, cho nên gọi là Bồ-tát.
Nghĩa là, những gì Bồ-tát tu hành – tuy chúng ta chưa đọc hết kinh, mới đọc mười sáu đoạn – nhưng đại thể tình hình chúng ta cũng hiểu được đôi chút. Bố thí chính là buông xả, là buông xuống. Bồ-tát là tất cả đều xả, đều buông xuống rồi. Cái gì đáng xả mà chưa xả, đáng buông mà chưa buông, đó chính là sự phân biệt vi tế, cho nên gọi là Bồ-tát.
Bích Chi Phật tu Thập nhị nhân duyên. Mười hai nhân duyên là nhân, quả báo là Bích Chi Phật. Trong Tam thừa Phật pháp, Bích Chi Phật thuộc về Trung thừa; trong Nhị thừa thì các Ngài cũng bị xếp vào Tiểu thừa, nhưng cao hơn Thanh Văn, trí tuệ cao hơn Thanh Văn.
Thanh Văn đoạn Sự, phiền não trên Sự tướng đã đoạn rồi, Tham - Sân - Si quả thật không còn nữa, nhưng tập khí (thói quen) vẫn còn, vẫn còn cái dáng vẻ của Tham - Sân - Si. Có Tham - Sân - Si không? Thật sự là không có, nhưng cái dáng dấp thì vẫn còn, các Ngài quả thật đã đoạn rồi. Nhưng Bích Chi Phật thì ngay cả tập khí cũng không còn, đây chính là chỗ cao minh hơn A-la-hán. Thanh Văn tu Tứ đế: Khổ - Tập - Diệt - Đạo. Nhân nào quả nấy, đâu có thể sai chạy được? Không thể sai được. Thanh Văn dùng pháp Tứ đế, Khổ - Tập - Diệt - Đạo, đoạn trừ Kiến tư phiền não trong ba cõi, mới có thể liễu sanh tử xuất tam giới, vượt thoát luân hồi lục đạo.
Trong sáu nẻo luân hồi, cõi Trời (Thiên đạo) có hai mươi tám tầng, không thể nói hàm hồ chung chung là một cõi Trời, nói vậy không được! Trong hai mươi tám tầng trời chia làm ba cõi: Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới.
Điều kiện của thiên nhân cõi Vô sắc giới là hoàn toàn tu Thiền định. Theo cách nói thông thường của chúng ta, đó là bậc cao trong thiền định thế gian, quả báo sanh về trời Vô sắc. Đây là chúng ta gọi là phàm phu, nhưng là “phàm phu cao cấp”. Họ biết thân thể này không phải là thứ tốt, thân thể là sắc tướng, họ ngay cả cái thứ này cũng không cần, không cần thân thể này nữa. Phàm phu cao cấp! Ở Trung Quốc, Lão Tử thể hội được ý nghĩa này. Lão Tử thường nói: “Ngô hữu đại hoạn, duy ngô hữu thân” (Ta có cái lo lớn, là vì ta có cái thân). Ông nói: Ta có mối lo hoạn rất lớn, là gì? Là vì ta có cái thân thể này. Thân thể là mối lo lớn, không có thân thể thì tốt biết bao!
Phàm phu cao cấp, trong cõi Vô sắc không có thân thể, người thường gọi là Linh giới (cõi linh hồn), đại khái có ý nghĩa như vậy. Trong Phật pháp gọi là có thần thức trú ở cảnh giới đó; họ không cần thân thể, là phàm phu cao cấp.
Thấp hơn một bậc là Sắc giới, có mười tám tầng trời. Mười tám tầng trời này có thân thể, đương nhiên có thân thể thì có môi trường sinh hoạt của thân thể, thân thể này cần nơi ở, cần nhà cửa, cần hoàn cảnh cư trú. “Dục” thì họ không còn, nhưng “Sắc” thì họ có. Họ có y phục, họ không cần ăn uống, họ không có việc ăn uống; thiên nhân cõi Sắc lấy “thiền duyệt vi thực” (niềm vui thiền định làm thức ăn), họ không cần ăn uống thực phẩm.