Những Lời Khai Thị Trí Huệ Trong Kinh Kim Cang
Chủ Đề 171: Trì Giới Là Nền Tảng Của Việc Học Phật, Bao Gồm Hai Loại Là Chỉ Và Tác. “Chỉ Trì” Tức Là Các Việc Ác Chớ Làm; “Tác Trì” Tức Là Các Việc Thiện Vâng Làm. Giới Sát Sanh Phần Nhiều Để Trị Bệnh Sân; Giới Trộm Cắp Phần Nhiều Trị Bệnh Tham; Giới Tà Dâm Phần Nhiều Trị Bệnh Tham Và Si; Giới Vọng Ngữ Cũng Phần Nhiều Trị Bệnh Tham Và Si; Giới Uống Rượu Thì Trị Cả Ba Độc Tham, Sân, Si Vậy. Lúc Mới Bắt Đầu Trì Giới, Trọng Ở Chỗ Sự Tướng Không Phạm. Nhưng Nếu Là Bồ Tát, Thì Khởi Tâm Động Niệm Đã Là Phạm Giới
Chủ giảng: Pháp sư Tịnh Không
Thời gian: Tháng 05 năm 1995
Địa điểm: Cư Sĩ Lâm Phật Giáo Singapore
Trích lục từ: Báo cáo nghiên cứu Kim Cang Bát Nhã (Tập 012)
Chuyển ngữ: Tịch Minh
— ❖ —
Chúng ta tiếp tục giải thích kinh văn: “Bồ Tát ư pháp, ưng vô sở trụ, hành ư bố thí” (Bồ Tát đối với pháp, nên không có chỗ trụ, mà hành việc bố thí).
Phần trước đã báo cáo với quý vị, bố thí bao trùm tất cả các pháp, cho nên ý nghĩa của nó sâu rộng vô hạn. Bố thí có ba loại, như trước đã nói, trì giới thuộc về Vô úy bố thí. Mà trì giới thực sự là nền tảng của việc học Phật, đây là điều chúng ta bắt buộc phải coi trọng.
Người thời nay học Phật đông hơn người xưa, cơ duyên học Phật của người thời nay cũng thuận tiện hơn người xưa, nhưng tại sao thành tựu lại không bằng người xưa? Thật ra là do người hiện đại đã lơ là giới luật. Bộ kinh này [Kinh Kim Cang] được Đức Thế Tôn khởi xướng từ việc trì giới: đắp y mang bát, vào thành lớn Xá Vệ khất thực, đó đều là trì giới. Điều này bảo cho chúng ta biết rằng, nếu không nỗ lực thực hành ngay trên giới hạnh, thì Phật pháp dù lý luận có hay đến đâu cũng đều trở nên sáo rỗng.
Đó chính là lý do vì sao tại đây, Đức Thế Tôn đặc biệt nhấn mạnh phải “hành ư bố thí”. Quý vị nghe câu này, phải hiểu được hàm ý bên trong, không phải chỉ có mỗi bố thí, mà cả Lục độ [sáu pháp Ba-la-mật] đều phải “hành” mà không được “trụ”. Trụ tức là không hành, không hành là không được; nhất định phải hành, phải làm bố thí, phải trì giới, phải nhẫn nhục, phải tinh tấn, phải thiền định, tất cả đều phải nỗ lực thực sự mà làm.
Khi tôi mới sơ học Phật, cũng phạm phải căn bệnh chung của giới trí thức. Giới trí thức rất ngưỡng mộ Phật học, thấy lý luận Phật pháp nói rất cao siêu, nói rất viên mãn, nên việc nghiên cứu đọc tụng đều rất hứng thú, nhưng đối với giới luật thì lại lơ là. Họ cho rằng thời đại đã khác rồi, hà tất phải giữ những giới điều kia? Nhất là người có đọc sách, chỉ cần tiếp xúc một chút với khoa học hiện đại, họ nhất định sẽ nghĩ rằng: Thích Ca Mâu Ni Phật là người của ba ngàn năm trước, những giới luật được đặt ra từ ba ngàn năm trước, bây giờ làm sao mà áp dụng cho được? Luật pháp quốc gia, ngay cả Hiến pháp, qua vài năm còn phải tu chỉnh một lần, giới luật của Phật ba ngàn năm rồi chưa từng sửa đổi, cái này làm sao mà dùng tốt được?
Đồng thời họ lại liên tưởng rằng Ngài là người Ấn Độ, chúng ta là người Trung Quốc, ý thức hệ của chúng ta không giống nhau, phương thức sinh hoạt của chúng ta cũng chẳng giống nhau, những giới điều đó hiện nay làm sao mà thông dụng? Tự nhiên đối với giới luật họ không còn hứng thú. Đó là căn bệnh chung! Bậc thiện tri thức, người thầy thực sự giỏi cũng biết rõ, những suy nghĩ, cách nhìn, cách làm của giới trẻ hiện nay, các Ngài rõ như ban ngày. Đằng nào thì những việc này có khuyên anh cũng vô dụng, anh cũng sẽ không chấp nhận, nói nhiều thì anh còn chán ghét, còn sanh tâm phản cảm, nên dứt khoát không nói nữa. Nhưng thật sự không nói thì lại có lỗi với học trò.
Trong ba năm đầu tiên tôi mới học Phật, thân cận Đại sư Chương Gia, mỗi tuần tôi gặp Ngài một lần, khoảng chừng một đến hai tiếng đồng hồ. Trong suốt ba năm đó, Lão nhân gia có những lúc nói một cách nhẹ nhàng, thoáng qua nhưng đầy ẩn ý: “Giới luật rất quan trọng!”
Sau khi Ngài viên tịch, tôi ngẫm nghĩ lại xem mình đã học được những gì trong ba năm theo Ngài, thì ấn tượng về câu nói này là sâu sắc nhất. Bởi vì ít nhất tôi đã nghe không dưới ba, bốn mươi lần. Lần nào Ngài cũng không nói dài dòng, chỉ đúng một câu: “Giới luật rất quan trọng”.
Lần đầu tiên khi Ngài giảng, Ngài giảng tương đối chi tiết. Ngài dùng một ví dụ: “Ví như chúng ta đi tàu hỏa từ Đài Bắc xuống Cao Hùng. Muốn đi tàu thì trước tiên phải mua vé. Trì giới cũng giống như anh cầm tấm vé này trên tay vậy. Anh cầm vé mới có thể lên tàu, đi đường vẫn phải cầm, trên tàu người ta còn soát vé, tuyệt đối không được làm mất, đến trạm rồi còn phải thu hồi lại”. Giới luật cũng giống như vậy, phải giữ từ đầu đến cuối. Điều này nói lên rằng trì giới vô cùng quan trọng, cực kỳ quan trọng, tuyệt đối không thể lơ là.