Những Lời Khai Thị Trí Huệ Trong Kinh Kim Cang
Chủ Đề 1054: Nhất Chân Pháp Giới, Bình Đẳng Bình Đẳng, Há Có Sự Phân Biệt Giữa Phàm Và Thánh
Chủ giảng: Pháp sư Tịnh Không
Thời gian: Tháng 05 năm 1995
Địa điểm: Cư Sĩ Lâm Phật Giáo Singapore
Trích lục từ: Báo cáo nghiên cứu Kim Cang Bát Nhã (Tập 092)
Chuyển ngữ: Tịch Minh
— ❖ —
【Nhất Chân pháp giới, bình đẳng bình đẳng, há có sự phân biệt giữa phàm và thánh.】
Đây là đại tiền đề, nhất định phải thấu rõ, việc giảng kinh thuyết pháp sau này đều lấy đây làm nền tảng. Khi chúng ta đọc “Kinh Vô Lượng Thọ”, trong bốn mươi tám lời nguyện, nếu là người tỉ mỉ một chút, sau khi đọc xong nhất định sẽ nảy sinh nghi ngờ. Những người không nghi ngờ thường thuộc hai hạng: một là người rất có phước báo, không phân biệt, không chấp trước; hai là người qua loa đại khái, tâm quá thô thiển nên không hề lưu ý.
Trên kinh nói, phàm là những người vãng sanh đến thế giới Tây phương Cực Lạc, chúng ta biết rằng thế giới Tây phương có “tứ độ, tam bối, cửu phẩm” (bốn cõi, ba bậc, chín phẩm). Mà những người vãng sanh, trên từ bậc Đẳng Giác Bồ Tát như Ngài Văn Thù, Phổ Hiền cũng đều phát nguyện cầu vãng sanh, dưới thì đến cả chúng sanh nơi địa ngục. Điều này cho thấy những người vãng sanh vốn dĩ cực kỳ không bình đẳng, chênh lệch nhau quá lớn. Hơn nữa, thế giới Cực Lạc lại giảng cho chúng ta về tứ độ, tam bối, cửu phẩm; thế nhưng trong nguyện văn lại nói rằng, tất cả những người vãng sanh khi đến thế giới Tây phương Cực Lạc đều là bình đẳng. Thân thể bình đẳng, thảy đều là thân sắc vàng ròng Tử Ma; tướng mạo bình đẳng, trí huệ bình đẳng, thần thông bình đẳng, đều có Thiên nhãn thông, Thiên nhĩ thông, Tha tâm thông, Lậu tận thông, Thần túc thông, không có một thứ nào là không bình đẳng, điều này làm sao khiến người ta không hoài nghi cho được? Bạn đọc đoạn kinh văn này mà không hoài nghi thì mới là chuyện lạ, hoài nghi là chuyện đương nhiên.
Tất nhiên, Đức Phật trong kinh đã giải thích rõ cho chúng ta, vì sao lại bình đẳng? Vốn dĩ là không bình đẳng, nhưng khi đến thế giới Tây phương thì tất cả thảy đều bình đẳng, tất cả Bồ Tát đến thế giới Tây phương đều làm A Duy Việt Trí Bồ Tát. A Duy Việt Trí Bồ Tát, chúng ta thường nói là viên chứng tam bất thoái. Viên chứng tam bất thoái thông thường là chỉ cho bậc từ Thất địa trở lên. Lên đến đâu? Lên đến Đẳng Giác. Sanh đến thế giới Tây phương Cực Lạc có phải giống như Thất địa Bồ Tát không? Không phải! Thất địa vẫn còn kém xa lắm. Là Đẳng Giác, đích thực là Đẳng Giác, các ngài ngang hàng bình đẳng với chư Phật, cho nên nơi đó là pháp giới bình đẳng. Sự bình đẳng đó không phải do tự chúng ta tu mà đạt được, nếu dựa vào sự tu tập của chính mình để đạt được thì khó khăn lắm, thời gian sẽ rất dài! Phải mất đến ba đại a-tăng-kỳ kiếp, vô lượng kiếp.
Vậy sự bình đẳng này từ đâu mà có? Là do oai thần bổn nguyện của Phật A Di Đà gia trì, là từ đó mà có, chứ không phải do tự mình tu mà đạt được, mà là do Phật lực gia trì. Chúng ta ắt hẳn sẽ thắc mắc: Phật A Di Đà làm gì có thần lực lớn đến như vậy? Điều này cũng khiến người ta phải hoài nghi. Tại sao Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật của chúng ta không gia trì cho chúng ta? Cớ sao nguyện lực, thần lực của Phật A Di Đà lại lớn lao đến thế? Ngay tại chỗ này, nếu bạn nghiên cứu kỹ “Kinh Vô Lượng Thọ”, bạn sẽ thấu tỏ. Bổn nguyện của Phật A Di Đà gia trì là là lời tuyên thuyết hiển minh, rất rõ ràng; nhưng phần ẩn chứa thầm kín bên trong thì thật không thể nghĩ bàn! Trong sự thầm kín đó, tất cả chư Phật Như Lai trong mười phương thế giới thảy đều đang gia trì cho Phật A Di Đà, thảy đều gia trì cho người vãng sanh đó. Nói cách khác, niệm Phật vãng sanh thế giới Tây phương Cực Lạc, là bạn đang nhận được sự gia trì của tất cả chư Phật Như Lai trong mười phương ba đời tận hư không, khắp pháp giới, sự việc là như vậy đó. Thế nên Đức Thế Tôn đã miệng đắng lòng thương khuyên nhủ chúng ta niệm Phật cầu sanh Tịnh độ, trong “Kinh Di Đà” Ngài đã nhiều lần khuyên răn khích lệ, nhắc đi nhắc lại hết lần này đến lần khác, Đức Phật đã từ bi đến chỗ tột cùng. Chúng ta hiểu rõ đạo lý này, tường tận sự thật này, thì mới không còn hoài nghi, từ đó mới chịu “tử tâm đạp địa” (dứt bặt mọi vọng tưởng, một lòng một dạ) thật thà niệm Phật, mới chịu buông xả vạn duyên, thành tựu ngay trong một đời này.