Những Lời Khai Thị Trí Huệ Trong Kinh Kim Cang
Chủ Đề 1034: Phương Pháp Dụng Công: Trừ Bỏ “Năng” Thì Phải Trừ Bỏ “Sở”, Trừ Bỏ “Sở” Tức Là Trừ Bỏ “Năng”
Chủ giảng: Pháp sư Tịnh Không
Thời gian: Tháng 05 năm 1995
Địa điểm: Cư Sĩ Lâm Phật Giáo Singapore
Trích lục từ: Báo cáo nghiên cứu Kim Cang Bát Nhã (Tập 090)
Chuyển ngữ: Tịch Minh
— ❖ —
【Phương pháp dụng công, trừ bỏ “Năng” (khiển Năng) thì phải trừ bỏ “Sở” (khiển Sở), trừ bỏ “Sở” tức là trừ bỏ “Năng”. Trừ bỏ “Năng” và “Sở” tức là trừ bỏ sự phân biệt, trừ bỏ sự chấp trước. Phân biệt được loại trừ sạch hết thì Thức thứ sáu chuyển. Chấp trước được loại trừ sạch hết thì Thức thứ bảy chuyển. Hai thức này đã chuyển thì Ngã và Pháp đều không, thảy đều là Nhất Như vậy.】
Mục tiêu tối hậu của Phật pháp Đại thừa là dạy chúng ta minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật. Mà “kiến tánh” chính là “Nhất như” được nói đến trong bộ kinh này. Chúng ta đọc trên kinh văn thấy câu: “Như Lai giả, chư pháp như nghĩa” (Như Lai là nghĩa “Như” của các pháp). Do đó có thể biết, nếu có thể khế nhập vào “chư pháp nhất như”, quý vị liền thấy được Như Lai, liền chứng được Như Lai, bản thân mình cũng thành Như Lai, đây gọi là minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật. Chỗ này nói về phương pháp dụng công, đây là nguyên lý nguyên tắc quan trọng nhất trong các phương pháp, là cương lĩnh quan trọng hàng đầu. Phật pháp thông thường nói với chúng ta, phương pháp tu hành, phương pháp dụng công là vô lượng vô biên. Trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện có câu “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”, thông thường chúng ta thường nghe nói đến tám vạn bốn ngàn pháp môn, “pháp” chính là phương pháp, “môn” chính là cửa ngõ. Nhưng bắt buộc phải biết rằng, tám vạn bốn ngàn phương pháp cũng tốt, vô lượng phương pháp cũng vậy, cội gốc của tất cả mọi phương pháp chính là “phá chấp trước”, điều này không thể không biết. Bất luận dùng phương pháp gì, nếu không thể phá chấp trước thì sai rồi, hoàn toàn sai lầm rồi. Tham thiền phải phá chấp, niệm Phật cũng phải phá chấp, trì chú phải phá chấp, tu học Kinh giáo vẫn phải phá chấp. Chấp trước không phá, quý vị chắc chắn vẫn là phàm phu. Tri kiến của quý vị, cũng có nghĩa là tư tưởng của quý vị, kiến giải của quý vị, chính là cái mà chúng ta thường gọi là “tâm luân hồi”. Tất cả mọi tạo tác của quý vị đều gọi là “nghiệp luân hồi”; cho dù là học Phật, vẫn cứ dùng tâm luân hồi, ở trong Phật pháp vẫn là tạo nghiệp luân hồi, vậy làm sao quý vị có thể thành tựu? Có lẽ quý vị sẽ nói: “Tôi bây giờ học Phật rồi, đây sao có thể là tâm luân hồi, nghiệp luân hồi được?”. “Tôi hiện tại tu Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Bát-nhã, ngày ngày tôi đều đang tu những thứ này”. Chẳng có tác dụng đâu; nhìn hình tướng bên ngoài dường như quý vị đang học Phật, quý vị đang tu Bồ Tát đạo, đang tu Bồ Tát hạnh. Nhưng nếu quán sát sâu hơn một tầng, quý vị vẫn là đang loay hoay trong lục đạo luân hồi. Trong lục đạo, nếu quả thật quý vị đang làm chuyện của ba đường thiện, thì như vậy cũng coi là khá rồi! Chỉ e là quý vị vẫn đang làm chuyện của ba đường ác mà bản thân lại chẳng hề hay biết. Đây là sự thật, chúng ta quan sát những người học Phật ở xung quanh, số này không hề nhỏ. Học Phật như thế nào mới là đúng pháp? Buông xả, thân tâm thế giới thảy đều buông xả, đó mới là như pháp.
Ở đây giảng “khiển Năng khiển Sở”, “Năng” là tâm chủ thể khởi sự chấp trước, ba tâm đều chẳng thể được (tam tâm bất khả đắc); “Sở” là hết thảy vạn pháp làm đối tượng bị chấp trước. Bắt buộc phải hiểu rõ, buông xả một bên, là hai bên đều phải buông xả. Tại vì sao? Năng và Sở là đối lập nhau, một bên đã không còn thì bên kia chắc chắn cũng không thể tồn tại. Bất luận quý vị là từ bên “Năng” buông xả, hay là từ bên “Sở” buông xả. Năng Sở là nói như thế nào? Từ bên “Sở” buông xả, chính là từ nơi vạn pháp mà buông xả, đối với pháp thế gian và xuất thế gian, tôi sẽ không bao giờ để nó ở trong tâm nữa. Pháp thế gian và xuất thế gian bày ra ngay trước mắt chúng ta, thì thái độ của chúng ta là gì? Tùy duyên, như vậy thật tự tại biết bao! Thế nào gọi là tùy duyên? Trong tâm tơ hào không vướng mắc chấp trước, đây mới gọi là tùy duyên; còn có một tơ hào ý niệm tồn tại ở trong đó, thì không phải là tùy duyên, mà chính là phan duyên. Quý vị chưa buông xả, quý vị vẫn còn có một chút ý niệm ở trong đó, vẫn còn nghĩ muốn thế này thế kia, như vậy không được! Một tơ hào ý niệm cũng không có, triệt để buông xả, như vậy là đúng rồi. Đây là buông xả từ bên “Sở”. Buông xả từ bên “Năng”, thì công phu đó cao hơn. Biết được điều gì? Chính là ba tâm (quá khứ, hiện tại, vị lai) đều bất khả đắc. Cái tâm “có thể được” (năng đắc), cái ý niệm “năng đắc” của ta đã không có, thì lấy đâu ra cái “sở đắc”? Đương nhiên là không có sở đắc. Cho nên Phật dạy chúng ta buông xả, quy nạp lại không ngoài hai bên: bên “Năng” và bên “Sở”. Bên nào cũng được, bên nào cũng tốt. Tuy nhiên, đối với những người có căn tánh trung hạ như chúng ta mà nói, thì buông xả từ bên “Sở” sẽ dễ dàng hơn. Người thượng căn lợi trí đa phần buông xả từ bên “Năng”. Thiền tông mà chúng ta nói đến, Thiền tông Trung Quốc, chư vị Đại đức Thiền tông, những gì các Ngài nói trong Ngữ Lục, cương lĩnh tu hành của các Ngài là tu từ ngay cội gốc căn bản. Trước đây chúng ta đã từng giảng qua Vĩnh Gia Thiền Tông Tập, Vĩnh Gia Chứng Đạo Ca, cũng đã từng giảng qua Tín Tâm Minh của Tam Tổ, giảng qua Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn Luận của Hòa thượng Đại Châu. Nguyên tắc tu hành mà những vị này nói đến, đều là giảng tu từ ngay căn bản. Căn bản là gì? Căn bản là Tâm. Tâm chính là “Ba tâm bất khả đắc” mà trong Kinh Kim Cang đã giảng, chính là hạ thủ công phu từ ngay chỗ này. Thế mới biết những vị Đại đức của Thiền tông Trung Quốc này, các Ngài trừ bỏ từ bên “Năng”. Những người dụng công bên Giáo hạ đa phần trừ bỏ từ bên “Sở”, ví dụ như các vị Hòa thượng Chủ thất trong Niệm Phật Đường thường hay nói: “Buông xả thân tâm thế giới, vạn duyên thảy đều buông xả”, đương nhiên trong câu nói này có cả Năng lẫn Sở, nhưng vẫn là chú trọng ở bên Sở, nhất định phải buông xả. Buông xả, khiển Năng khiển Sở chính là trừ bỏ sự phân biệt, chấp trước; “khiển” chính là mang ý nghĩa buông xả, là đem phân biệt, chấp trước buông xả.