1

Những Lời Khai Thị Trí Huệ Trong Kinh Kim Cang

Chủ Đề 1018: Lại Nói: “Tuy Nhiên, Do Sức Căn Lành Từ Bi Từ Thuở Xa Xưa...”

Chủ giảng: Pháp sư Tịnh Không

Thời gian: Tháng 05 năm 1995

Địa điểm: Cư Sĩ Lâm Phật Giáo Singapore

Trích lục từ: Báo cáo nghiên cứu Kim Cang Bát Nhã (Tập 088)

Chuyển ngữ: Tịch Minh

— ❖ —

【Lại nói: Tuy nhiên, do sức căn lành từ bi từ thuở xa xưa, đối với các loài hữu tình kia, tùy theo căn tánh, ý nhạo, thắng giải của họ, mà chẳng khởi tâm phân biệt, tùy duyên tế độ, chỉ dạy làm cho họ được lợi ích và niềm hoan hỷ, dẫu đến tận cùng đời vị lai cũng không bao giờ cùng tận.】

Ý nghĩa của đoạn này hoàn toàn tương ưng với phẩm “Phổ Hiền Hạnh Nguyện” trong kinh Hoa Nghiêm. Nó cũng giải thích lý do tại sao chư Phật chẳng bao giờ khởi tâm động niệm khi thuyết pháp độ sanh, từ trước đến nay đều không hề khởi niệm. “Tuy nhiên” (Do nhiên) ở đây chính là một cách hết sức tự nhiên, không có một mảy may miễn cưỡng nào. Sự tự nhiên này bắt nguồn từ đời quá khứ, “thuở xa xưa” chính là trong các đời quá khứ, nhờ vào sức mạnh của căn lành từ bi.

Sức mạnh của căn lành từ bi này, chính là việc đời đời kiếp kiếp trong quá khứ đã phát nguyện độ chúng sanh, giống như hiện tại chúng ta nương theo Tứ Hoằng Thệ Nguyện của cổ Phật mà phát nguyện vậy. Nguyện thứ nhất là “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”, đây chính là thệ nguyện từ bi to lớn được phát ra trong thời kỳ tu nhân. Sau khi thành Phật, mà chẳng phải đợi đến lúc thành Phật đâu, nói một cách chân thật, dựa trên giáo nghĩa của kinh Kim Cang, thì ngay khi phá được một phẩm vô minh, chứng được một phần pháp thân — đây là địa vị Sơ Trụ Bồ tát của Viên Giáo — bắt đầu từ lúc này trở đi, Bồ tát đã không còn khởi niệm nữa rồi. Theo tiêu chuẩn của kinh Kim Cang, khi Tứ tướng và Tứ kiến đã bị đoạn trừ sạch sẽ, không còn nữa, thì liền chứng được quả vị Sơ Trụ Bồ tát của Viên Giáo, phá một phẩm vô minh, chứng một phần pháp thân.

Vị Bồ tát như vậy, ở trong mười phương pháp giới thì cũng giống y như quả vị Như Lai, cảm ứng đạo giao; chúng sanh có “cảm”, thì Bồ tát liền có “ứng”. Trong tâm trí chúng sanh mong cầu Phật đến giáo hóa họ, “đáng dùng thân Phật để độ thoát”, thì Ngài tự nhiên liền hiện thân Phật. Về việc Bồ tát hiện thân phận gì, thì giống như trong phẩm Phổ Môn có nói đến ba mươi hai Ứng thân của Quán Thế Âm Bồ tát. Ba mươi hai Ứng thân ấy đều không có tâm niệm, không hề tác ý. Làm gì có cái ý niệm rằng: “Ta cần phải hiện cái thân gì”! Mà đó là sự cảm ứng đạo giao một cách vô cùng tự nhiên với hết thảy chúng sanh. Hơn nữa, cái “cảm” của chúng sanh cực kỳ vi tế, điều này chúng ta cần phải biết rõ.

Lấy Đức Phật Thích Ca Mâu Ni làm ví dụ, Thế Tôn năm xưa xuất hiện ở thế gian chúng ta, thị hiện thành Phật, ban đêm nhìn thấy sao mai mọc mà ngộ đạo thành Phật. Ngài thành Phật rồi, nhưng người ta nhìn vào chỉ thấy một vị xuất gia đang ngồi thiền dưới cội Bồ đề, nào ai biết được Ngài đã thành Phật? Ai sẽ đến thân cận Ngài, thỉnh cầu Ngài thuyết pháp độ sanh? Không có ai cả, không một ai nhận ra Ngài. Trong lúc này, nếu như không có người thưa thỉnh, thì Phật sẽ lập tức nhập Bát Niết Bàn, sẽ ra đi, phàm phu nhục nhãn chúng ta sẽ chẳng hề hay biết việc Phật đã ứng hóa ở thế gian. Từ đó có thể thấy, con người thế gian này, cũng như việc về sau Phật giáo hóa nhiều chúng sanh đến như vậy, tất cả đều là nhờ sự cơ cảm (căn cơ và cảm ứng).

Cái “cảm” này của chúng ta, thậm chí ngay cả chính chúng ta cũng không hề hay biết, nó giống hệt như sóng điện vậy, quá ư yếu ớt, tự mình cũng chẳng phát hiện ra, thế nhưng ở chỗ của chư Phật thì lại cảm động đến, Phật liền có “ứng”. Thế nhưng Phật hiện thân, vẫn luôn cần phải có người thưa thỉnh. Thế gian không có ai thỉnh pháp, thì có các vị Bồ tát đến giúp đỡ. Các vị Bồ tát biến hóa thành người trời Tịnh Cư. Trời Tịnh Cư tức là Tứ Thiền. Tứ Thiền rất đặc biệt. Tứ Thiền có chín tầng trời, ngoài ba tầng trời thông thường ra, còn có một cõi trời ngoại đạo, gọi là trời Vô Tưởng. Đó là cõi trời của ngoại đạo, những người tu pháp Vô Tưởng Định sẽ vãng sanh về đó. Những cõi này đều là cõi trời phàm phu, bốn tầng này là cõi trời phàm phu; ngoài bốn tầng trời này ra, lại còn có năm tầng trời nữa, gọi là Ngũ Bất Hoàn Thiên.

Ở trong đó đều là những người tu hành, Đại thừa hay Tiểu thừa thảy đều có. Những vị này thì biết, họ có thiền định rất sâu; nói cách khác, những cảm động cực kỳ vi tế họ đều phát hiện được. Vừa quán sát liền thấy: “Phật đã thành Phật rồi, việc này trọng đại biết bao!”. Thấy không có ai thưa thỉnh, các Ngài liền vội vàng giáng hạ, biến hóa thành thân người để thỉnh Phật thuyết pháp. Nhờ vậy Phật mới trụ lại thế gian, không nhập Bát Niết Bàn. Người trời Tịnh Cư đã thay mặt chúng ta để thưa thỉnh. Đợi đến khi Ngài vừa mở lời thuyết pháp, chúng ta lúc này mới biết được vị này thật phi thường, vị này có học vấn, có đạo đức, chúng ta nên theo học với Ngài. Đây là những điều chúng ta thấy được trong kinh điển. Cho nên, sức mạnh cảm ứng ở thuở ban sơ là khá yếu ớt (*).