CHIA SẺ VỀ BÍ MẬT CỦA NIỆM LỰC
TẬP 5
Chủ giảng: Tịnh Không pháp sư
Thời gian: 12/11/2011
Địa điểm: Hiệp hội giáo dục Phật Đà Hồng Kông
Cẩn dịch: Minh Hải
Ban biên tập: Học Làm Người Tốt
Các vị pháp sư, các vị đồng tu, mời ngồi. Xin xem trích dẫn mục thứ chín hàng thứ năm:
“Chúng ta bắt buộc phải giữ gìn thái độ cởi mở đối với trí huệ truyền thống của nhiều nền văn hóa nguyên thủy, bởi vì chúng đối với tính chất của niệm lực có một sự lý giải bản năng. Những văn hóa này hầu như đều tin tưởng, vũ trụ có một trường năng lượng thống nhất”, tương tự trường năng lượng zero, giống một tấm lưới không nhìn thấy được, đem tất cả liên kết lại với nhau. “Khoa học niệm lực bây giờ đã chứng minh, những văn hóa nguyên thủy này đối với sự hiển linh, trị liệu và tín ngưỡng là có căn cứ”. Cho nên chúng ta nên học tập những văn hóa này, “thừa nhận mỗi một ý niệm đều là thần thánh, có chứa sức mạnh hình thức vật lý”. Đoạn văn này khiến một số người hiện đại có sự thừa nhận đối với văn hóa nguyên thủy của mỗi chủng tộc khác nhau trên toàn thế giới, trong văn hóa nguyên thủy người bây giờ nhìn thấy hình như rất nhiều điều đều là mê tín, trên thực tế là trí huệ chân thật. Cho nên khoa học gia kêu gọi chúng ta phải giữ gìn thái độ cởi mở, điều này là tốt. Bây giờ nghiên cứu niệm lực, quả thật họ có một sự lý giải bản năng. Cổ nhân Trung Quốc tin tưởng nhân tánh bổn thiện, cho nên câu đầu tiên trong “Tam tự kinh” “Nhân chi sơ, tánh bổn thiện”. Cái thiện này không phải thiện trong thiện ác, chữ ‘thiện’ này là một lời tán thán, là khẳng định mỗi người đều là hoàn mỹ, đều không có khiếm khuyết. Cái thiện này người Trung Quốc gọi là thánh nhân. Trong kinh Đại thừa Phật thường nói “Tất cả chúng sanh vốn dĩ là Phật”, đây chính là bổn thiện mà cổ nhân Trung Quốc nói. Cho nên hồi xưa đời đời thế thế đều có thánh hiền xuất hiện, cận đại không có nữa. Tại sao không có? Chúng ta nghi ngờ cổ thánh tiên hiền, cho rằng thời kỳ thượng cổ, con người là người hoang dã, không có văn hóa, không có trí huệ, càng không có khái niệm khoa học, chúng ta đánh giá thấp họ rồi. Con người quả thật có bản năng, bản năng bất khả tư nghì.
Đại sư Lục tổ Huệ Năng Thiền tông Trung Quốc, mọi người biết ngài 24 tuổi đã khai ngộ, khi ngài khai ngộ đã làm báo cáo với Ngũ tổ, tức là đem cái mà ngài khai ngộ nói ra, rốt cuộc đã ngộ những điều gì. Ngài chỉ nói 20 chữ, một câu phía trước là câu hỏi “hà kì tự tánh”, nói như bây giờ là, không ngờ tự tánh, “vốn tự thanh tịnh, vốn không sanh diệt, vốn tự đầy đủ, vốn không dao động, năng sanh vạn pháp”, là 20 chữ ngài nói, Ngũ tổ đã đem y bát truyền cho ngài. Vừa khai ngộ vậy ngài trở nên thế nào? Ngài trở nên cái gì cũng thông, không có cái gì không thông. Từ đâu mà thấy? Ngài không biết chữ, chưa học qua kinh giáo, mặc dù sống ở Hoàng Mai tám tháng, trong “Đàn kinh” ghi chép rất rõ ràng, thời gian tám tháng này, ngài luôn ở phòng giã gạo, chẻ củi. Lão hòa thượng Ngũ tổ cho ngài một việc bây giờ nói là nghĩa công, đây là nghề của ngài, ngài là tiều phu, cho nên giã gạo chặt củi là nghề của ngài, ngươi cứ làm cái việc mà ngươi đã quen, làm được tám tháng. Thiền đường ở Hoàng Mai ngài chưa từng bước vào, giảng đường ngài cũng chưa từng bước vào, không ngờ ngài đã khai ngộ. Chỉ có một người biết được, hòa thượng Ngũ tổ Hoằng Nhẫn biết, đây không phải một người bình thường, ngài là người gì? Ngài là người có một sự lý giải bản năng.
Người lý giải bản năng là ra sao? Thật thà, nghe lời, làm thật, là một người như vậy. Không có phân biệt, không có chấp trước, không có vọng tưởng, không có phiền não, đây là người thật thà. Cha mẹ dạy họ làm sao, thầy giáo dạy họ làm sao, họ thật nghe lời, họ thật sự y giáo phụng hành, ngài là người như vậy. Tình cờ khi đi bán củi thì nghe một người đọc “Kinh Kim Cang”, ngài nghe được mấy câu thì rất cảm động, gặp được nhân duyên thù thắng, có thể tới Hoàng Mai thân cận ngũ tổ. Khi mới gặp Ngũ tổ hỏi ngài: Ngươi tới ngôi chùa này muốn làm gì? Ngài trả lời Ngũ tổ: Tôi muốn làm Phật. Người khác nghe xong đều phá lên cười, hắn ta muốn tới làm Phật, một người quê mùa dốt nát như vậy mà cũng muốn làm Phật. Ngũ tổ nghe xong trong lòng đã định, bởi vì Ngũ tổ nhìn thấy bản năng của ngài, người khác không nhìn thấy. Tại sao người khác không nhìn thấy? Người khác tâm ý thô sơ. Ngũ tổ là người minh tâm kiến tánh, tâm địa thanh tịnh bình đẳng, giống với đề “Kinh Vô Lượng Thọ” vậy, “Thanh tịnh bình đẳng giác”, giác tâm soi chiếu người này. Điều này đều có đạo lý, không phải không có nguyên nhân, người tâm địa thanh tịnh có thể nhìn thấy. Cho nên con người thật sự có bản năng.