1

Theo Lời Kể Của Cư Sĩ Khang Quốc Thái


1. Năm 1985, vì việc kinh doanh của công ty riêng không thuận lợi, nên tôi buộc phải ở lại Mỹ. Lúc mới sang Mỹ, tiếng Anh không thông thạo, tôi chỉ có thể làm việc trong một công xưởng nhỏ do người Hoa mở, nhận mức lương cơ bản nhất ở Mỹ. Sư phụ biết hoàn cảnh khó khăn của tôi nên thường xuyên khích lệ: “Hãy gắng công tu hành, tất cả những chuyện trước kia hãy buông xuống hết đi”.

Mỗi khi trong Phật đường nói đến việc cần phải bố thí, tôi thường hay nói: “Nếu công xưởng ở Đài Loan vẫn còn thì con đã có tiền để làm việc tốt này rồi”. Một hôm, sư phụ bỗng nhiên hỏi tôi: “Quốc Thái, rốt cuộc lúc anh ở Đài Loan đã phá sản mấy lần rồi?” - “Dạ thưa sư phụ, một lần thôi là đã nghiêm trọng lắm rồi, chứ có đâu mà mấy lần ạ?” Nhưng sư phụ nói: “Chắc phải hai ba lần chứ? Vì những lời như thế tôi đã nghe nhiều lần rồi”. Sau đó ngài nói tiếp: “Mỗi lần anh nói như vậy, thì trong A-lại-da thức của anh lại ghi thêm một lần dấu ấn. Chuyện quá khứ hãy cứ để nó qua đi, nhắc lại mãi làm gì. Hãy nhìn về phía trước, gánh vác lấy công việc hoằng pháp lợi sanh”.

Một ngày nọ, sư phụ bảo tôi đi cùng ngài đến tiệm tạp hóa mua vài đồ dùng thường ngày. Tôi nhớ tổng cộng hết 27,4 đô-la Mỹ. Tôi lập tức rút ví, chuẩn bị dùng thẻ tín dụng để thanh toán. Nhưng sư phụ lại nói với tôi: “Quốc Thái à, tôi có mấy tờ 100 đô mới tinh, là tiền người ta cúng dường tôi. Tôi chưa bao giờ dùng tiền đô nên không biết tiền này là thật hay giả, anh cầm giúp tôi đi thanh toán xem có dùng được không”. Tôi nói dĩ nhiên là dùng được, nhưng vẫn lấy trong đó 100 đô đưa cho nhân viên thu ngân, người ta trả lại 72,6 đô-la. Tôi nói: “Thưa sư phụ, là tiền thật, họ trả lại tiền thừa đây ạ”. Sư phụ nhận lấy tiền lẻ bỏ vào túi và nói: “Thật là được rồi, thật là được rồi”.

Mãi đến hai năm sau, tôi mới lĩnh ngộ được sự chỉ dạy của sư phụ. Ngài biết tôi đang túng thiếu, nhất định giúp tôi giữ thể diện. Nếu lúc ấy sư phụ nói: “Quốc Thái, anh không có tiền, để tôi tự chi trả”. Thì dù có chết đói, tôi cũng sẽ quẹt thẻ tín dụng vay tiền để trả bằng được khoản đó; và trong lòng sẽ cảm thấy rất buồn, ngay cả một chút tiền mọn này cũng không có khả năng cúng dường cho sư phụ. Vì thế, cách xử lý sự việc của sư phụ vô cùng tinh tế, bất cứ lúc nào cũng luôn khiến những người xung quanh sanh tâm hoan hỷ. Cách đối nhân xử thế, sự tu dưỡng trong lời ăn tiếng nói của ngài là điều mà chúng ta phải nỗ lực học tập.

2. Tháng 7 năm 1985, sư phụ nhận lời làm đạo sư cho Cộng đồng học Phật Dallas, đồng thời chính thức nộp đơn lên chính quyền tiểu bang để xin thành lập Hội Phật giáo Dallas. Ngày hôm sau, tức thứ hai, sư phụ đến làm thủ tục xin thẻ xanh ở Mỹ. Thật kỳ diệu, ngay trong chính ngày hôm đó, sư phụ đã nhận được giấy phép cư trú thẻ xanh của Mỹ. Sau khi hoằng pháp ở Mỹ được sáu tháng, sư phụ trở về Đài Loan.

Vào cuối mùa xuân năm 1986, sư phụ lại trở về Dallas để hoằng pháp. Nhưng lần này không giống như mọi khi, không có quán trưởng đi cùng, chỉ một mình sư phụ đến Dallas, còn quán trưởng trực tiếp đi Phoenix thăm con trai và cháu nội. Việc giảng kinh hoằng giáo của sư phụ vẫn diễn ra như bình thường. Sau bữa trưa, mọi người cùng ra ngoài đi dạo, tôi đi ở phía sau. Một đồng học từ phía sau chạy lên, nhìn quanh một hồi không thấy quán trưởng đâu liền hỏi: “Sao không thấy quán trưởng nhỉ?” Tôi lập tức trả lời: “Lần này quán trưởng không đến, chỉ có sư phụ đến thôi. Nhưng quán trưởng đến làm gì chứ? Bà ấy mà đến là sẽ chỉ đạo hết chuyện này đến chuyện khác, cái này không được, cái kia không đúng, còn phải đi mua sắm, uống cà phê cùng bà ấy, lằng nhằng phiền phức đủ thứ. Chúng ta chỉ cần sư phụ đến giảng kinh thôi, quán trưởng không đến là tốt nhất”.

Vì tôi nói rất lớn tiếng nên tất cả mọi người đều nghe thấy. Lúc bấy giờ, sư phụ đang đi ở hàng đầu bỗng dừng bước, ngài quay đầu lại nhìn tôi. Sư phụ nói: “Quán trưởng không đến thì tôi cũng không thể đến được. Chẳng lẽ các vị muốn biến tôi thành kẻ vong ân phụ nghĩa hay sao? Các vị đối xử với quán trưởng phải tốt hơn đối với tôi mới đúng. Bởi vì tôi có được thành tựu như ngày hôm nay là nhờ quán trưởng đã hộ trì suốt 18 năm qua. Nếu không có sự hy sinh của bà ấy thuở ban đầu, thì tôi đã lưu lạc đầu đường xó chợ, hoàn tục từ lâu rồi, cũng không thể nào có được năng lực giảng kinh như thế này. Chính nhờ sự cống hiến của quán trưởng mà mầm non nhỏ bé là tôi mới có thể lớn lên thành cây. Năm 40 tuổi, tôi rời thầy Lý đến Đài Bắc bắt đầu giảng dạy. Nhà quán trưởng ở Mộc Sách, vì vậy bà phải đến khu vực gần Đại học quốc lập Đài Loan đường Roosevelt để chuyển xe buýt. Bà nhìn thấy một người trẻ tuổi là tôi đang giảng kinh trong căn nhà đó, và cũng nghe được câu nói cuối cùng của tôi: ‘Xin các bạn học ngày mai nhất định phải đến nghe buổi giảng cuối cùng, vì tiền thuê nhà của tôi chỉ trả đến ngày mai, và tôi cũng chỉ còn lại tiền đủ mua một cái màn thầu cho trưa mai thôi. Ngày kia sẽ tá túc ở đâu, cuộc sống rồi sẽ trôi về nơi nào, tôi cũng không biết’. Vì vậy bà ấy đã mời tôi đến ở nhà bà, đồng thời sắp xếp cho tôi mỗi tối đến văn phòng của bạn bà để giảng kinh. Thế là tôi trở về Đài Trung xin ý kiến của thầy Lý, hỏi rằng tình huống như vậy liệu có được không? Thầy Lý nói: ‘Việc này như lý như pháp, có người hoằng pháp, có người hộ pháp’. Bà ấy đã ủng hộ tôi giảng kinh thuyết pháp suốt 18 năm không gián đoạn. Các vị nhất định phải biết ơn sự hộ trì của quán trưởng đối với tôi, nhất định phải càng tôn trọng bà ấy hơn, vậy mới là đệ tử tốt, mới không biến tôi thành một người vong ân phụ nghĩa”.